Sách Y Học - Sức Khỏe Y học gia đình

Chương 44: Tổn thương cổ chân

Peter J.Rizzolo

Tổn thương cổ chân là một trong những vấn đề chỉnh hình mà thầy thuốc gia đình thường gặp nhất. Tỷ suất mới mắc có thể sẽ tǎng nữa với sự ham thích của công chúng tǎng lên đối với các môn thể thao có tốc độ nhanh.

Có hai điều mấu chốt để xử lý có hiệu quả:

1. Hiểu biết đúng đắn giải phẫu chức nǎng của khớp.

2. Tiến hành có kế hoạch từ giai đoạn cố định ban đầu để điều trị đến những chương trình phục hồi chức nǎng chủ động, sẽ đưa bệnh nhân quay trở lại sự hoạt động đầy đủ và bình thường một cách nhanh chóng và an toàn.

XEM XÉT VỀ MẶT PHẨU THUẬT HỌC

Ba xương tạo thành khớp cổ chân: xương mác, xương chầy ở cổ chân và xương sên ở dưới. Góc tạo bởi mặt xương chầy và xương mác được coi như mộng của cổ chân. Mặt khớp của xương sên hình cái chêm, với đường kính ngang-trước rộng hơn đường kính sau như ở hình 44.1.

Hình 44-1. Khớp cổ chân và bàn chân, nhìn tù trên xuống

Vì vậy, khi bàn chân ở tư thế gập về phía mu bàn chân, phần rộng nhất của xương sên ǎn khớp vào mộng một cách khít khao, tǎng thêm sự ổn định của khớp vào. Nếu bàn chân ở tư thế gập về phía gan bàn chân, phần hẹp nhất của xương sên sẽ ǎn khớp vào mộng, gây ra khớp lỏng lẻo hơn và tính ổn định của khớp giam xuống.

Khớp có chân được ổn định bởi các dây chằng bên và giữa. Giây chằng bên là: giây chằng mác-sên trước, giây chằng mác-gót và giây chằng mác-sên sau. Giây chằng bên tương đối chùng và cho phép quay bàn chân vào phía trong rất nhiều. Chúng được thể hiện ở hình 44.2.

Hình 44-2. Nhìn bên các giây chằng cổ chân

mặt giữa của cổ chân có các dây chằng delta nông và sâu, chúng nối xương chầy với xương sên, xương thuyền (navicular) và xương gót. Giây delta nông gồm ba dây chằng: giây chầy-thuyền, giây chầy-gót, giây chầy-sên nông. Giây delta sâu gồm có giây chằng chầy-sên trước và giây chằng chầy-sên sau. Các hình 44.3 và 44.4 trình bày các giây chằng giữa của cổ chân.

Hình 44-3. Nhìn giữa các giây chằng delta sâu

Hình 44-4. Nhìn giữa giây chằng delta nông

Chạy qua khớp có một số gân giúp cho việc gấp, duỗi cũng như lật vào hay lật ra của bàn chân. Các gân này có tác dụng như một hệ thống phụ trợ cho khớp cổ chân.

CƠ CHẾ TỔN THƯƠNG CỔ CHÂN

Sự lật nghiêng cổ chân mạnh (trẹo chân) gây ra 90% trường hợp tổn thương cổ chân. Giây chằng chuyên biệt bị tổn thương sẽ tùy thuộc vào vị trí của bàn chân lúc bị thương.

Nếu bàn chân ở tư thế gấp gan chân thì giây chằng mác-sên trước sẽ cǎng ra. Đây là giây chằng có thể bị tổn thương nhiều nhất nếu bàn chân bị trẹo mạnh. Nếu bàn chân gập về phía mu chân thì giây chằng mác-sên sau bị cǎng và việc trẹo này sẽ làm tổn thương giây chằng này. Nếu bàn chân ở thế trung gian, trẹo mạnh rất có thể sẽ làm tổn thương giây chằng mác-gót.

Các giây chằng giữa của khớp cổ chân (giây chằng delta) rất chặt và cho phép vận động ít hơn nhiều so với các giây chằng bên. Do đó trẹo bàn chân mạnh kiểu này tính ra chỉ dưới 10% của tất cả các tổn thương cổ chân. Tổn thương các giây chằng delta gây ra bởi trẹo mạnh khớp cổ chân, thường kèm theo sự quay vào trong của xương chầy trên bàn chân. Vì lực quay này, các thành phần trước của giây chằng delta hay bị tổn thương trước nhất.

PHÂN LOẠI TỔN THƯƠNG CỔ CHÂN

Các tốn thương của cổ chân được phân loại theo 2 cách. Chúng ta có thể mô tả những thay đổi giải phẫu học trong các giây chằng của cổ chân, chẳng hạn rách một phần nhỏ, rách một phần lớn hay rách hoàn toàn giây chằng. Cách phân loại có ích hơn đối với thầy thuốc gia đình là dựa trên trạng thái chức nǎng của khớp cổ chân. Cách phân loại này được trình bày dưới đây.

- Tổn thương độ 1 : Rách một phần giây chằng nhưng không đủ mức để gây ra sự bất ổn của khớp.

- Tổn thương độ 2: Rách một phần giây chằng, nhưng vận động khớp sẽ không bình thường khi cổ chân bị ép mạnh bằng tác động vào khớp.

- Tổn thương độ 3: Rách toàn bộ giây chằng gây bất ổn định thực sự khớp cổ chân.

ĐÁNH GIÁ CÁC TỔN THƯƠNG CỔ CHÂN

Đầu tiên hỏi tiền sử bệnh với câu hỏi mở về tai nạn xẩy ra như thế nào. Sự mô tả đầy đủ nên gồm những câu trả lời cho các câu hỏi sau đây: Bàn chân trẹo ra hay trẹo vào trong khi xẩy ra thương tích? Cẳng chân có bị vặn không? Bàn chân gập về phía mu chân hay về phía gan chân trong khi bị thương tích? Bị thương ở chỗ nào? (yêu cầu bệnh nhân dùng ngón tay chỉ vào).

Hỏi bệnh nhân điều gì xẩy ra ngay sau khi bị thương. Nếu bệnh nhân có thể đứng đậy và đi chung quanh hay tiếp tục hoạt động, như vậy tổn thương giây chằng hay gẫy xương có thể ít nghiêm trọng. Nếu cổ chân sưng to và mất mầu một vài phút sau khi bị thương, có thể nghi ngờ tổn thương nặng phần mềm hoặc thậm chí gẫy xương.

Khám thực thể gồm quan sát và sờ nắn. Lúc quan sát, tim chỗ sưng ở mắt cá trong và mắt cá ngoài. So sánh các điểm mốc với những điểm tương ứng ở chân đối diện. Nếu có sự biến dạng có nghĩa là bị sưng hay chảy máu tại chỗ và giúp cho việc xác định vùng tổn thương. Ngoài ra, da đổi màu chứng tỏ chảy máu ở trong tổ chức. Đổi màu ít nghĩa là tổn thương một phần giây chằng, còn mất màu nhiều thường là có gẫy xương hay tổn thương giây chằng lan rộng hơn.

Sờ trên vùng đau nhức sẽ giúp khu trú cấu trúc bị tổn thương. So sánh các cử động thụ động của cổ chân bị thương với cổ chân bên lành. Nếu có tiếng lạo sạo thường là có gẫy xương. Một thao tác có ích là "dấu hiệu kéo về phía trước". Tiến hành thao tác này như sau: bàn chân bị thương đặt ở tư thế gấp về phía gan chân, một tay cố định xương chầy, tay kia đặt ở sau gót, và bàn chân kéo ra phía trước. So sánh với bên lành, nếu chuyển động ra trước thái quá, điều đó nói lên giây chằng mác sên trước bị đứt.

Chụp X-quang không cần thiết đối với đa số các tổn thương cổ chân. Chỉ định chụp X-quang cho các trường hợp sau đây : (a) Ngay sau khi bị thương, bệnh nhân không thể mang nổi trọng lượng của mình; (b) Cổ chân thấy sưng to và đổi màu ngay sau khi bị thương tích; (c) Đau dữ dội khi vận động hay sờ nắn vào cổ chân và các vùng mà bạn cho rằng bị chấn động nhiều nhất sau khi bị thương tích; (d) Có tiếng lạo sạo khi sờ nắn hay vận động cổ chân; (e) Những trường hợp có thể gây kiện cáo, chẳng hạn tai nạn do xe cộ, bị thương ở nơi công cộng, hoặc nghi có sự lợi dụng.

ĐIỀU TRỊ TỔN THƯƠNG CỔ CHÂN

Điều trị tổn thương cổ chân bao gồm hai giai đoạn. (a) Chǎm sóc cấp tính nhằm làm dịu đau và giảm sưng, (b) Phục hồi chức nǎng.

Chǎm sóc cấp tính

Việc điều trị thường lệ tập trung vào bǎng ép, chườm đá lạnh, nâng chân cao, chống đau, sử dụng dây đeo, nẹp kim loại, hướng dẫn cách dùng nạng. Tuỳ mức độ tốn thương mà thay đổi việc sử dụng cách điều trị nào trong số trên.

Bǎng ép và nâng cao chân sẽ hạn chế việc rỉ máu và dịch ngoài tế bào xung quanh vết thương. Với cách giảm sưng, các biện pháp này giúp vết thương mau lành hơn. Thường thường bǎng chun dãn được dùng để bǎng ép, chẳng hạn khǎn choàng hình con bài "át".

áp lực tổng cộng lên cổ chân tuỳ thuộc vào độ kéo và số vòng cuốn xung quanh cổ chân. Nếu ép không đúng và quá mạnh lên cổ chân thì phù có thể xuất hiện ở cạnh chỗ bǎng bó. Nâng cao chân bị thương sẽ thúc đẩy việc trở về của máu tĩnh mạch vì giảm áp lực tĩnh mạch ở ngọn chi dưới, do đó sẽ làm giảm phù. Khi ngồi, bệnh nhân phải ở tư thế cổ chân được nâng lên tới mức xương chậu. Một phương pháp có hiệu quả là kết hợp chườm lạnh và ép, bằng cách nhúng một hoặc vài bǎng hình con "át", trong nước đá rồi áp ngay vào cổ chân sau khi bị lòn thương. Bǎng buộc vào cổ chân sau khi cuốn một hai vòng rồi đặt vào trong bǎng một ít đá. Sau khi lấy đá lạnh ra, có thể tiếp tục bǎng khô.

Lựa chọn nạng thích hợp và hướng dẫn cách sử dụng đúng có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc điều trị và phục hồi chức nǎng. Nạng chỉ giúp bệnh nhân di chuyển an toàn trong thời kỳ dưỡng bệnh nếu nó được sử dụng đúng. Nếu nạng quá ngắn đối với bệnh nhân thì sẽ không có tác dụng mang trọng lượng cơ thể. Đôi nạng quá dài ǎn khít vào hố nách sẽ làm cǎng nách và có thể gây ra tổn thương thần kinh-cơ. Việc điều chỉnh cho thích hợp cần được thực hiện bởi nhân viên có kinh nghiệm.

Vì đi lại sớm là yếu tố then chết để hồi phục nhanh và hoàn toàn sau khi bị tổn thương cổ chân, đeo cổ chân sao cho vẫn gập về phí mu chân và cả về phía gan bàn chân, nhưng hạn chế xoay vào trong hay ra ngoài thì rất tốt. Giây đeo ép bơm hơi rất hữu dụng vì nó đủ chắc để giữ lực phía bên và giữa, trong khi vẫn có thể thích nghi về giải phẫu học khớp cổ chân và giảm phù nề. ở những bệnh nhân có tổn thương độ I và II, đi lại thường có thể bắt đầu ngay từ khi có thể đứng được mà không thấy đau. Ngoài ra, vì giây đeo có thể tháo ra một cách nhanh chóng nên đắp đá lạnh hay nóng cũng rất dễ dàng.

Một điều quan trọng về điều trị nhưng thường không chú ý là phải chǎm sóc liên tục và đầy đủ. Sau khi đánh giá sơ bộ, bệnh nhân cần được thǎm lại vào 48 giờ sau và một đến hai tuần sau khi bị thương.

Việc đánh giá lại tổn thương là phải khẳng định chắc chắn rằng bong gân đang lành và bệnh nhân đang chấp hành những điều cǎn dặn.

Phục hồi chức nǎng

Việc chuyển từ giai đoạn cố định sang giai đoạn phục hồi chức nǎng là một quá trình từ từ. Ngay khi thấy không còn đau lúc nghỉ, có thế bắt đầu tập vận động dần và thường được tập tǎng dần lên với xoa lạnh hay nóng. Dần dần bệnh nhân tiến lên đi bộ hay chạy. Khi giây chằng đang lành, giữ trương lực cơ tốt sẽ hỗ trợ thêm cổ chân. Như vậy, phục hồi chức nǎng nhằm giữ trương lực cơ bằng cách sử dụng những luyện tập đặc biệt.

Cũng như việc điều trị cấp tính, những luyện tập phục hồi chức nǎng phụ thuộc vào mức độ tổn thương. Với tổn thương độ I, phục hồi bắt đầu trong lần đến khám đầu tiên. Bệnh nhân thực hiện đi nạng và được hướng dẫn lự giữ trọng lượng cơ thể một phần. Điều này giúp duy trì sức mạnh của các cơ gấp và cơ duỗi. Sau 48 giờ, bệnh nhân được hướng dẫn vận động nhiều hình thức và tập luyện đẳng trường (isometric exercises)1.

Với trẻ em, luyện tập nhiều loại động tác có thể dễ dàng thực hiện bằng cách yêu cầu chúng viết bằng chân bị thương trong không khí, tưởng tượng như là có đặt một chiếc bút chì giữa các ngón chân. Hoạt động này bắt cổ chân phải qua một loạt các hoạt động và chúng phải làm bốn lần một ngày. Cần làm nhẹ nhàng, không cử động đột ngột và dữ dằn.

Các tập luyện đẳng trường cũng có thể được bắt đầu. Bản thân khớp cổ chân không di chuyển trong quá trình tập luyện, nhưng lực tác động qua bàn chân y như có thể di chuyển cổ chân theo hướng đặc biệt đó. Chǎng hạn, để tǎng cường các cơ đảo trong (invertors) với động tác đẳng trường, buộc bàn chân sát vào chân giường và dùng sức đẩy chân vào trong. Hoạt động này không cho phép bàn chân chuyển động, nhưng nó làm cơ bàn chân mạnh lên. Giữ nguyên lực đẩy trong 5 giây đồng hồ. Tương tự như vậy, mặt bên của bàn chân có thể đặt vào chân giường và lực đảo ra y như lúc đảo trong bàn chân.

Cùng một cách như thế, người nằm ngửa, bàn chân có thể móc vào dưới mép của song giường và cố đẩy theo hướng gấp bàn chân theo hướng mu chân. Rồi bàn chân có thể lại đặt ở phía trước song giường và đẩy theo hướng gấp vào phía gan bàn chân. Lực được giữ mỗi lần trong 5 giây. Khuyên bệnh nhân mỗi động tác làm nhắc lại 5 lần theo 4 hướng và mỗi ngày làm bốn lần.

Hai tuần sau, bệnh nhân với tổn thương độ I phải tiến bộ để có thể mang đầy đủ trọng lượng cơ thể. Rồi việc luyện tập đẳng trường có thể bắt đầu. Trong trường hợp này, bàn chân phải chuyển động theo kiểu chống lại một trọng lượng hay một lực cố định. Để làm việc trên một cách đơn giản, có người bắt đầu bằng chạy theo hình số 8. Khi người ta chạy quanh một vòng theo hướng này thì sẽ làm hồi phục những cơ làm quay bàn chân ra và khi chạy vòng mà chạy quanh một hướng khác, họ sẽ làm hồi phục những cơ quay bàn chân vào trong. Với những vận động viên chạy, để tránh tổn thương lại cổ chân yêu cầu họ chạy trên một đoạn thẳng trong một số tuần lễ.

Với những tổn thương độ II, không chấp nhận việc mang trọng lượng cơ thể trong khoảng 48 giờ hay cho đến khi đứng không còn thấy đau nữa. Vào lúc đó, khuyến khích mang trọng lượng một phần với nạng. Cũng như với tổn thương độ I, nếu thấy khó chịu hay sưng thì dừng lại các luyện tập đẳng trương. Một khi đau và sưng giảm xuống, thường trong ít ngày, luyện tập đẳng trường có thể bắt đầu như đối với tốn thương độ I.

Xử trí các tổn thương cổ chân độ III phải thực hiện theo ý kiến các chuyên gia chỉnh hình thích hợp.

CÁC KỸ THUẬT XỬ TRÍ KHÁC

Sử dụng một miếng nước đá để xoa vào nơi tổn thương đang lành được nhiều thầy thuốc chuyên khoa thể thao ủng hộ mạnh mẽ. Miếng đá có thể được làm bằng cách đổ nước vào một phần chiếc chén bằng giấy, đặt vào ngǎn đá của tủ lạnh. Miếng đá có thể lấy ra từ chiếc chén bằng giấy khi cần thiết. Vùng bị tổn thương được xoa nhẹ bằng miếng nước đá trong 10 đến 15 phút, ba hay bốn lần mỗi ngày hay sau khi luyện tập. Vì nóng có thể làm dãn mạch ngoại biên, ẩm nóng thực tế có thể gây ra chẩy máu trong một hai ngày đầu sau khi bị thương tích. Thực sự là khi nào đắp ẩm nóng còn là vấn đề tranh cãi, nhiều người không tán thành sử dụng sức nóng khi mà sưng chưa khỏi hẳn.

Sau khi cổ chân đã khỏi, quấn bǎng vào cổ chân trước khi hoạt động mạnh có thể mang lại sự ổn định và có thể phòng tổn thương tái lại. Quấn bǎng rất cần đối với những ai bị tổn thương tái diễn ở cổ chân. Kỹ thuật quấn bǎng cổ chân đơn giản nhưng thực sự cần chút thực hành. Hình 44-5 trình bày một cách tiến hành quấn bǎng cố chân.

Hình 44.5 Kỹ thuật quấn bǎng cổ chân. (A) Bệnh nhân dùng đoạn bǎng hay một giây đeo để giữ cổ chân gập lên phía mu chân 90? (B). Rồi bắt đầu gần gót chân, quấn lần lượt những đường khác. (D) tạo ra một sự chống đỡ chặt bởi lớp nọ chồng lên lớp kia.

KIẾN NGHỊ VỀ CÁCH ĐIỀU TR

Các tổn thương độ I:

1. Đắp đá lạnh càng sớm càng tốt, trong 20 phút, cứ 2 đến 4 giờ một lần, đối với 48 giờ đầu

2- Dùng khǎn chun dãn hay giây đeo ép bơm hơi.

3- Nâng bàn chân lên (bằng mức hông) khi ngồi.

4- Dùng nạng để hỗ trợ đỡ trọng lượng cơ thể trong 48 giờ đầu hoặc cho đến khi đứng mà không thấy đau.

5- Dùng thuốc giảm đau, acetaminophen hay aminophen với codeine chống đau.

6- Thǎm lại sau 48 giờ. Lúc này khuyên bệnh nhân:

a, Bắt đầu vận động nhiều loại và tập luyện đẳng trương.

b, Dần dần mang đầy đủ trọng lượng cơ thể khi thấy chịu đựng được (có thể dùng gậy để đi lại)

c, Thỉnh thoảng chườm ẩm nóng (bỏ chườm túi đá)

7- Trong 1 tuần đánh giá lại. Nếu triệu chứng còn rất ít, cho phép mang trọng lượng cơ thể như bình thường. Bắt đầu tập để tǎng cường cho cơ bụng chân và kéo giây gót. Mục đích nhằm hoạt động đầy đủ sau 2 tuần. Quấn bǎng thường giúp ích cho các hoạt động thể thao mạnh.

Tổn thương độ II:

1- Chườm đá ngay, trong 20 phút, cứ hai đến bốn giờ chườm một lần.

2- Bǎng khí ép hoặc hình "át", bó bột còn tranh cãi.

3- Dùng nạng và không để mang trọng lượng cơ thể trong 48 giờ hoặc cho đến khi đứng không còn thấy đau nữa. Rồi cho phép mang một phần trọng lượng (với nạng) và di chuyển dần dần.

4- Bắt đầu chương trình luyện như đã được mô tả cho tổn thương độ I.

5- Thǎm lại vào 48 giờ sau khi bị thương và khoảng hàng tuần sau đó.

Tổn thương độ III:

Mọi tổn thương độ III đều có chỉ định đến khám thầy thuốc chuyên khoa chỉnh hình. Việc chọn cách xử trí phẫu thuật hay không phẫu thuật tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. Tuổi bệnh nhân, tình trạng sức khỏe chung, các hoạt động thể lực thường xuyên và nghề nghiệp đều phải xem xét đến. Có một thời, mọi tổn thương độ III đều nghĩ đến yêu cầu điều trị phẫu thuật mở. Tuy nhiên ngày nay, nhiều phẫu thuật viên chỉnh hình đang chọn cách điều trị cho các tổn thương này theo các yếu tố đã ghi nhận được.

Gẫy xương

Mọi giây chằng đều nối hai xương với nhau. Hãn hữu, bản thân xương yếu hơn giây chằng và dẫn đến gẫy xương. Điều này đặc biệt hay thấy ở trẻ em, nơi các đĩa đầu xương đang lớn thường yếu hơn các giây chằng tương ứng. mọi lứa tuổi, các thương tích nặng có thể làm ảnh hưởng đến cả giây chằng và xương, thường dẫn đến sự không ổn định của khớp, sưng nhanh và đau khi mang trọng lượng cơ thể. Đau nhức khư trú ở xương, sau thương tích sưng rất nhanh, đau dữ dội khi đứng im và xương bị dị dạng rõ ràng báo hiệu gẫy xương và nên chụp X-quang ngay. Mọi trường hợp gãy xương đều phải cố định, loại cố định và thời gian cố định thay đổi theo độ trầm trọng của thương tích và tuổi của bệnh nhân.

Ví dụ trường hợp 1

Một người phụ nữ 30 tuổi, béo quá mức trung bình, mới đây bắt đầu tập chương trình thể dục nhịp điệu, tới thǎm bạn vì đau ở cổ chân. Trong lần thứ hai đến trung tâm thể dục nhịp điệu, khi cô ta lùi ra sau thì bước chân vào chân của người khác và khớp cổ chân trái của cô ta bị xoay đi. Cổ chân xoay về hướng đường giữa làm đau dữ dội và có cảm giác như xé ở mặt ngoài cổ chân. Sau mấy phút cổ chân sưng và đổi màu. Một người bạn đã đưa cô ta về nhà. nhà cô dùng hai viên aspirin và đắp nóng vào cổ chân bị thương, Bạn là thầy thuốc của cô, đến thǎm cô sáng ngày hôm sau, 16 giờ sau khi bị thương. Bạn hỏi tiền sử cơ chế bị thương một cách chi tiết, sự xuất hiện các triệu chứng và quá trình diễn biến tiếp sau đó.

Bạn xác định được là cô ấy không phải là nhà thể thao, tiền sử không có tổn thương cổ chân, nay cổ chân trẹo vào phía trong và có lẽ phải chịu đựng một tổn thương rách giây chằng khá nặng dựa trên các triệu chứng nặng nề và sự xuất hiện sớm sưng và thâm tím. Khi khám thực thể, bạn tìm ra những điều có ý nghĩa gồm đau nhức khi bạn sờ trên giây chằng mác-sên trước và mác-sên gót của cổ chân trái của cô ta. Vận động có thể đoán trước sẽ làm cho các giây chằng trên bị chấn động và làm đau tǎng thêm. Vì trọng lượng của cô ta quá nặng, đau nhiều, xuất hiện sưng và thâm tím nhanh, bạn quyết định cho chụp X-quang nhưng không phát hiện ra một biểu hiện nào của tổn thương xương.

Bạn chẩn đoán là một tổn thương cổ chân độ 2 và bắt đầu chống đau bằng acetaminophen, bǎng ép với một chiếc khǎn bọc hình con "át", nâng bàn chân ngang với hông, chườm lạnh bằng đá trong vòng 20 phút, cứ 4 giờ một lần. Không mang trọng lượng người bằng nạng trong 48 giờ đầu, là lúc anh hẹn cô ta quay lại khám.

Khi khám lại lúc 48 giờ phát hiện ra dấu hiệu đau nhức khi sờ trên các giây chằng bên. Cô ta lo lắng về việc trở lại chương trình luyện tập vì tin rằng cô ta sẽ tǎng 5 kg nếu ngồi quanh quẩn trong nhà. Sau khi chứng minh tại phòng khám rằng cô ta có thể đứng thẳng trên khớp cổ chân mà không thấy đau thêm, bạn khuyên cô ta mang trọng lượng cơ thể một phần dựa trên cổ chân của mình. Cô được hướng dẫn về cách mang trọng lượng một phần bằng nạng và đắp nóng khi dấu hiệu sưng đã hết. Bạn khuyên hoặc dùng chai nước nóng áp vào trong 20 phút, cứ 4 giờ làm một lần, hoặc một miếng đệm nóng với cùng thời gian và tần số. Cô sẽ tiếp tục dùng bǎng ép và sẽ quay lại khám sau một tuần (khoảng 9 ngày tiếp sau khi bị thương).

Lần quay trở lại khám này, các triệu chứng đỡ nhiều và cô đã có thể chịu đựng những cử động nhẹ nhàng khác nhau. Cô không yêu cầu thuốc giảm đau. Bạn hướng đẫn cô tập luyện đẳng trương và làm trong 1 5 phút, bốn lần một ngày. Cô cũng được nhận bản hướng dẫn cách tập luyện và được huấn luyện cách chuyển từ nạng sang gậy để mang trọng lượng cơ thể một phần. Cô cũng được hướng dẫn cách sử dụng gậy cho đúng.

Cứ khoảng 2 tuần một lần cô được thǎm khám lại cho đến khi khỏi hoàn toàn. Khi cổ chân được vận động nhiều cách mà không gây đau, lúc đó bạn có thể bắt đầu cho luyện tập đẳng trương để giúp tǎng sức mạnh cơ. Tiếp đó là chương trình phục hồi chức nǎng gồm đi bộ, rồi chạy trên một bề mặt phẳng, nằm ngang, sau đó chạy theo hình số 8. Sau mỗi lần tập, chườm đá lạnh 20 phút. Vào lúc đó, cô ta có thể trở lại hoạt động bình thường, kể cả chương trình luyện tập của mình.


» Xem mục lục
» Xem các sách cùng thể loại
Món ngon gia đình
Món ngon gia đình

Các món ăn ngon, thông tin làm đẹp, chăm sóc bé.
Online Caro Game
Online Caro Game

Đọ sức với các cao thủ caro hàng đầu Việt Nam.