Sách Y Học - Sức Khỏe Y học gia đình

Chương 24: Đau họng

Thomas A. Cable

Đau họng là một triệu chứng: đau ở họng. "Viêm họng" là một chẩn đoán: họng bị viêm nhiễm.

Đau họng thường do viêm họng và viêm họng thì thường do nhiễm khuẩn cục bộ ở họng. Nhưng phải nhớ rằng có những khả nǎng khác: đôi khi đau họng không phải là do viêm họng. Còn các nguyên nhân khác gây đau họng do biểu mô họng bị khô vì thở bằng miệng, do kích thích hóa học vì hút thuốc lá hoặc hít thở các chất độc khác. Hãy luôn nhớ các sự phân biệt này khi bạn đọc chương này.

HỎI BỆNH S

Cần phải xác định rằng bệnh nhân đúng là đau họng chứ không phải đau ở cổ. Phải xem bệnh nhân có những triệu chứng khác nữa không. Chú ý hỏi về sốt, chảy nước mũi hoặc ngạt mũi, đau hoặc tức ở tai và ho. Hỏi xem triệu chứng đã có từ bao lâu rồi, những người ở cùng nhà hoặc cùng chỗ làm việc có những triệu chứng tương tự như vậy không. Lần này có phải triệu chứng tái phát không?

Nếu là triệu chứng bệnh mãn tính hoặc tái phát thì cần hỏi tiền sử tỷ mỉ hơn. Xem phần "cách xác định chẩn đoán".

KHÁM BỆNH

Bảo bệnh nhân dùng một ngón tay chỉ vào chỗ đau nhất. Hỏi xem đau ở đường giữa hay đau một bên, đau ở cao hay thấp? Bệnh nhân có thể thở bằng mũi được không? Gõ nhẹ vào các xoang xem mức độ nhạy cảm và kiểm tra tai hai bên. Sờ nắn cổ xem có hạch sưng to không, chú ý vị trí của các hạch và xem hạch có mềm không?

Bây giờ thì khám miệng và họng. Có những vết loét ở miệng và họng không? Yết hầu, hạch hạnh nhân, hoặc thành sau họng có bị sưng đỏ không? Có chất rỉ tiết ra ở bên các hạch hạnh nhân hoặc các vệt chất nhầy (chẩy nước mũi phía sau) ở họng không?

Cần phải tiếp tục thǎm khám nữa nếu có những biểu hiện gợi ý đặc biệt. Lưu ý là khi một trẻ kêu đau họng thì bao giờ bạn cũng cần phải đưa ra một đánh giá chung xem đứa trẻ đó đang bị ốm như thế nào (xem chương 22).

CÁCH XÁC ĐỊNH CHUẨN ĐOÁN

Phân biệt giữa viêm họng virus và viêm họng do liên cầu khuẩn tan huyết nhóm Ab (Group A Beta-hemolytic streptococcus - GABHS) thường là vấn đề chính đối với thầy thuốc (và đối với bệnh nhân được thông tin tốt). Một bệnh sử có đủ các dấu hiệu ho, chảy nước mũi và khàn giọng thường là viêm họng do virus, không có dấu hiệu này thì có nhiều khả nǎng là viêm họng liên cầu khuẩn tan huyết nhóm Ab .

Viêm họng do liên cầu khuẩn tan huyết nhóm AB thường gặp nhất ở trẻ em lứa tuổi 5-15 tuổi, ít gặp hơn ở bệnh nhân dưới 3 tuổi hoặc trên 30 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh cao hơn trong mùa đông và mùa xuân, bệnh gặp ở những nhóm dân chúng có thu nhập thấp, nơi điều kiện sống đông đúc có thể là một yếu tố. Các dấu hiệu lâm sàng điển hình làm ta nghĩ nhiều đến khả nǎng do liên cầu khuẩn tan huyết là: sốt cao hơn 101? F (tức 38,3? C), hạch phía trước cổ sưng to, mềm.

Trường hợp vừa có nốt ban sốt tinh hồng nhiệt, xuất hiện điển hình ở thân mình và hai cánh tay, sờ tay vào có cảm giác như mặt giấy nhám. vừa có kèm theo viêm họng do liên cầu khuẩn, thường chỉ là hãn hữu, nhưng nếu có thì đó là dấu hiệu bệnh lý đặc trưng nhất.

Xác định chẩn đoán nhiễm liên cầu khuẩn tan huyết bằng cách nuôi cấy vi khuẩn họng thường quy hoặc làm test thử nhanh bằng kháng nguyên liên cầu khuẩn là một biện pháp thử có thể tiến hành được trong lúc người bệnh vẫn còn ở nơi khám bệnh. Tuy nhiên các xét nghiệm này chưa đủ để kết luận chắc chắn liên cầu khuẩn là thủ phạm của viêm họng, vì rằng khoảng 15% dân số có mang vi khuẩn này mà không có triệu chứng gì và cả hai loại xét nghiệm đều có tỷ lệ âm tính giả vào khoảng 10% trường hợp. Điều này sẽ được bàn luận sau trong chương này.

Viêm mủ quanh hạch hạnh nhân và thành sau họng đôi khi gây biến chứng viêm họng liên cầu khuẩn và tạo ra sự mất cân xứng rõ rệt giữa hai bên. Nếu bênh nhân hay nhổ nước miếng và đau khi há to miệng để khám thì khối mưng mủ (áp xe) này rất đáng ngờ. Cần phải nghĩ đến một chẩn đoán khác, tuy hiếm, là viêm nắp thanh quản. Bệnh này cũng có biểu hiện sốt đau họng và nhổ nước miếng (do nuốt khó). Trẻ em dưới 8 tuổi hay bị mắc nhất. Bệnh ập đến nhanh, điển hình trong vài giờ. Tình trạng khó thở khiến ta nghĩ tới sắp ngừng thở.

Nhiều loại virus có thể gây ra viêm họng và viêm họng thường chỉ là một phần của tình trạng nhiễm trùng lan rộng hơn với các triệu chứng ở mũi thường nổi trội hơn đau họng. Virus Coxackie và virus herpes simplex type I đều gây loét nông, đỏ, đau ở cung vòm họng phía sau.

Tǎng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng có thể gây ra viêm họng và viêm hạch hạnh nhân nặng. Phải nghĩ tới điều này khi một thiếu niên hoặc thanh niên bị đau họng lại có các nốt ở thành sau họng sưng to cân đối hai bên, đặc biệt là một bệnh nhân có bệnh sử tiếp xúc gần đây. Các dấu hiệu khác là hạch toàn thể, mỏi mệt, lách to và ban đỏ ngoài da. Hình ảnh lâm sàng đầy đủ của bênh tǎng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng có thể chỉ tiến triển từ từ. Thường thường bệnh chỉ được phát hiện khi bệnh nhân trở lại sau một tuần hoặc sau một lần đi thǎm khám đầu tiên bệnh nhân than phiền sốt dai dẳng, chán ǎn (do viêm gan nhẹ) hoặc quá mệt mỏi. Các triệu chứng này ở một người bệnh có biểu hiện khởi thủy là đau họng cần phải lập tức được kiểm tra xem ngay cả khi không thấy có các dấu hiệu để xác nhận. Có thể chẩn đoán xác định bằng nghiệm pháp (test) Monospot hoặc soi kính hiển vi lam máu để tìm những bạch cầu lympho không điển hình.

Cảm cúm là bệnh phổ biến trong mùa đông, thường xuất hiện thành dịch. Điển hình là đau họng nhẹ và tạm thời, sốt, rét run ho khan. Cảm cúm gây triệu chứng ở mũi ít hơn nhưng biểu hiện mệt mỏi thì lại nặng hơn nhiều so với các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp trên do virut.

Viêm họng do vi khuẩn lậu có thể không gây ra triệu chứng gì hoặc chỉ gây đau họng. Vì viêm họng do vi khuẩn lậu không có những dấu hiệu thực thể rõ ràng nên cần phải lưu ý đến nó ở bất kỳ người bệnh nào đang có những triệu chứng làm ta nghĩ đến bệnh lây truyền theo đường tình dục (nhớ rằng phải rất tế nhị khi khai thác bệnh sử liên quan đến tình dục). Một số nhóm người có nguy cơ cao do hành vi tình dục của họ; ví dụ, ở một số quần thể sinh viên, số mắc viêm họng do vi khuẩn lậu thường đến khám bệnh với lý do đau họng. Khi nghi ngờ viêm họng do lậu phải tiến hành nuôi cấy vi khuẩn họng trên môi trường Thayer-martin.

Các triệu chứng dị ứng hô hấp theo mùa (viêm mũi dị ứng, hắt hơi, ngứa mắt) có thể gây đau họng do hậu quả chảy nước mũi sau họng hoặc do thở bằng mồm nhiều làm khô niêm mạc họng.

Đau họng có thể đi kèm với những triệu chứng khác như viêm tai giữa hoặc viêm xoang, vì thế khám tai và kiểm tra độ phù nề của ở vùng xoang là quan trọng. Kích thích hóa học do khói thuốc lá hoặc các tác nhân môi trường cần phải được xem xét nếu như bệnh nhân than phiền là triệu chứng mãn tính hoặc tái phát. Ung thư họng hoặc ung thư lưỡi có thể biểu hiện như một trường hợp đau họng dai dẳng. Các nguyên nhân đau họng ít phổ biến hơn gồm: viêm nấm candida, viêm tuyến giáp, bệnh ở rǎng, mưng mủ thành sau họng, bệnh bạch cầu và ngay cả thiếu máu cục bộ cơ tim. Bệnh bạch hầu là một trường hợp cấp cứu y tế và sức khỏe công cộng, may thay, bệnh này bây giờ rất hiếm gặp. Bệnh được đặc trưng bằng các triệu chứng đau họng kèm sốt cao và có chất tiết dính ở họng (giả mạc). Những điều gợi ý cho các tình trạng này sẽ thường tǎng lên khi hỏi bệnh sử và thǎm khám.

XEM XÉT ĐIÊU TR

Một số ít trường hợp đau họng là loại bệnh cấp cứu y tế. Nguy cơ tắc đường thở do viêm nắp thanh quản, do mưng mủ thành sau họng hoặc hạch hạnh nhân sưng quá to vì bị viêm hạch hoặc tǎng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng đòi hỏi người thầy thuốc phải chẩn đoán nhanh chóng và điều trị thích hợp để ổn định tình trạng bệnh nhân. Hầu hết các nguyên nhân đau họng khác đều không phải bệnh cấp cứu.

Các biện pháp điều trị đau họng bao gồm hai loại: điều trị thông thường và điều trị đặc hiệu. Biện pháp điều trị thông thường bao gồm xúc họng nước ấm (pha muối hoặc không) hay xúc họng bằng dung dịch Benadryl Elixir. Loại thuốc sau là thuốc kháng histamin, có tác dụng gây tê, xúc họng từ 3-4 phút, nó có thể dễ chịu hơn nhiều so với thuốc xylocaine. Xông và bơm khí dung là phương pháp điều trị có sẵn không cần kê đơn và làm dịu cơn đau tạm thời. Nhưng đối với bệnh nhân sử dụng thuốc này lâu ngày sẽ có thể trở nên mẫn cảm với thuốc. Điều trị đặc hiệu viêm họng nhiễm trùng có nghĩa là nhằm trực tiếp vào yếu tố gây bệnh: Không có cách điều trị dặc hiệu sẵn có, đối với phần lớn các loại bệnh virus gây đau họng, trừ virus cúm type A thì dùng thuốc amantadine.

Các triệu chứng nặng của bệnh tǎng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng, đặc biệt là chất tiết ở họng nhiều, có thể điều trị bằng một liệu trình steroid ngắn, một phương pháp điều trị hiện đại nhưng còn gây tranh cãi. Nhiều thầy thuốc ở bệnh xá trường học cho rằng điều trị bằng steroid thì chóng khỏi mất ít thời gian phải bỏ học.

Ngày nay việc xác định chẩn đoán viêm họng do liên cầu khuẩn type AB (GABHS) một cách chính xác có thể được thực hiện trong lúc người bệnh còn ở phòng khám nhờ có bộ xét nghiệm kháng nguyên. Người thầy thuốc không còn phải quyết định điều trị thǎm dò dựa trên hình ảnh lâm sàng, hoặc qua việc

trì hoãn điều trị cho tới lúc có được kết quả nuôi cấy vi khuẩn. Tuy nhiên, điều trị tất cả các bệnh nhân đau họng và có test GABHS dương tính, trên thực tế đôi khi không cần thiết, nhất là trường hợp liên cầu khuẩn chỉ đơn thuần là sống cộng sinh, không gây ra viêm họng. Tình trạng này sẽ còn phải tiếp diễn cho tới khi nào chúng ta có những test nhanh để phân biệt giữa khuẩn ký sinh và khuẩn viêm nhiễm của họng.

Penecillin là thuốc được chọn để điều trị nhiễm liên cầu khuẩn nhóm AB. Đường đưa thuốc vào cơ thể trước hết tùy thuộc vào khả nǎng bệnh nhân có thể uống được không. Một liệu trình uống thuốc penicillin 10 ngày hoặc ở trường hợp người có dị ứng với penicillin thì dùng erythromycin. Nếu điều trị sớm, tiếp tục cho đến khi hết đợt liệu trình, các triệu chứng ở bệnh nhân sẽ được cải thiện nhanh chóng, giảm bớt sự lan rộng nhiễm khuẩn và có thể làm giảm bớt các biến chứng không mưng mủ (sốt đau khớp) và mưng mủ (viêm mủ hạch hạnh nhân). Đối với những bệnh nhân không khước từ thì tiêm penicillin (một liều benzathin penicillin). Tuy nhiên, phải nhớ tới hai nhược điểm của đường dùng thuốc này. Một là, tiêm thì đau, đau có thể kéo dài vài ngày. Hai là, tiêm penicillin đôi khi có thể gây ra phản ứng phản vệ nguy đến tính mạng ở một người có biểu hiện lần đầu bị dị ứng với penicillin. Các trường hợp tử vong do nguyên nhân này vẫn tiếp tục được thông báo, trái lại, tử vong do uống penicillin thì hầu như chưa bao giờ gặp.

Điều trị viêm họng do lậu cầu khuẩn đang là mục tiêu cập nhật thường xuyên của Trung tâm phòng chống bệnh tật (CDC), dựa trên nghiên cứu các loại thuốc kháng sinh mới và biến đổi các thuộc tính kháng thuốc của vi khuẩn. Do vậy, các thấy thuốc cần lựa chọn những hướng dẫn mới nhất của CDC về chủ đề này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Collins M Fleisher G, Kreisberg J, Fager S: Ro le of steroids in the treatment of infections mononucleosis in the ambulatory college student. J am coll health 33: 101-l05, 1984.


» Xem mục lục
» Xem các sách cùng thể loại
Món ngon gia đình
Món ngon gia đình

Các món ăn ngon, thông tin làm đẹp, chăm sóc bé.
Online Caro Game
Online Caro Game

Đọ sức với các cao thủ caro hàng đầu Việt Nam.