Sách Việt Nam Việt Nam môi trường và cuộc sống

Rừng Việt Nam trước và nay

Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước ta

Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng: rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt và nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước.

Đất nước Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ tuyến và đai cao, với địa hình rất đa dạng, hơn 2/3 lãnh thổ là đồi núi, lại có khí hậu thay đổi từ nhiệt đới ẩm phía Nam, đến á nhiệt đới ở vùng cao phía Bắc, đã tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên và sự phong phú về các loài sinh vật. Những hệ sinh thái đó bao gồm nhiều loại rừng như rừng cây lá rộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi, rừng hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng lá kim, rừng tre nứa, rừng ngập mặn, rừng tràm, rừng ngập nước ngọt,...

Qua quá trình quản lý chưa bền vững, độ che phủ của rừng ở Việt Nam đã giảm sút đến mức báo động. Chất lượng của rừng tự nhiên còn lại đã bị hạ thấp quá mức.

 

Sự giảm sút độ che phủ và chất lượng rừng là một vấn đề đáng lo ngại

Trước đây phần lớn đất nước Việt Nam có rừng che phủ, nhưng chỉ khoảng một thế kỷ qua, rừng bị suy thoái nặng nề. Trong thời kỳ Pháp thuộc, nhiều vùng đất rộng lớn ở phía Nam đã bị khai phá để trồng cà phê, cao su, chè và một số cây công nghiệp khác. Vào khoảng giữa thế kỷ XX, hầu như các khu rừng thuộc châu thổ sông Hồng, một phần lớn châu thổ sông Cửu Long cùng với các khu rừng trên đất thấp ven biển đã bị khai phá để trồng trọt và xây dựng xóm làng. Vào lúc này độ che phủ của rừng còn lại 43% diện tích đất tự nhiên.

Ba mươi năm chiến tranh tiếp theo là giai đoạn mà rừng Việt Nam bị thu hẹp lại khá nhanh. Hơn 80 triệu lít chất diệt cỏ cùng 13 triệu tấn bom đạn với hơn 25 triệu hố bom đạn, bom cháy cùng với đội xe ủi đất khổng lồ đã tiêu hủy hơn 2 triệu ha rừng nhiệt đới các loại.

Sau chiến tranh, diện tích rừng chỉ còn lại khoảng 9,5 triệu ha, chiếm 29% diện tích cả nước. Trong những năm vừa qua, để đáp ứng nhu cầu của số dân ngày càng tăng, để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng nền kinh tế còn yếu của mình, nhân dân Việt Nam vẫn phải tiếp tục khai thác một cách mạnh mẽ diện tích rừng còn lại. Số liệu thu được nhờ phân tích ảnh Landsat chụp năm 1979 - 1981 và KATE 140 trong cùng thời gian, cho thấy trong giai đoạn này rừng chỉ còn lại 7,8 triệu ha, chiếm khoảng 24% diện tích cả nước (Viện Điều tra và Quy hoạch rừng), trong đó 10% là rừng nguyên sinh. Ở nhiều tỉnh, rừng tự nhiên giàu còn lại rất thấp, như Lai Châu còn 7,88%, Sơn La 11,95%, và Lào Cai 5,38%. Sự suy giảm về độ che phủ rừng ở các vùng này là do mức tăng dân số đã tạo nhu cầu lớn về lâm sản và đất trồng trọt. Kết quả đã dẫn tới việc biến nhiều vùng rừng thành đất hoang cằn cỗi. Những khu rừng còn lại ở vùng núi phía Bắc đã xuống cấp, trữ lượng gỗ thấp và bị chia cắt thành những đám rừng nhỏ phân tán.

Trong mấy năm qua, diện tích rừng có chiều hướng tăng lên, 28,2% năm 1995 và cuối năm 1999 theo số liệu thống kê mới nhất thì độ che phủ rừng toàn quốc lên đến là 33,2%, trong đó:

1- Kon Tum                 63,7%        

2- Lâm Đồng                63,3%

3- Đắk Lắk                  52,0%

4- Tuyên Quang           50,6%        

5- Bắc Kạn                  48,4%

6- Gia Lai                    48,0%        

7- Thái Nguyên            39,4%        

8- Yên Bái                  37,6%

9- Quảng Ninh             37,6%

10- Hà Giang               36,0%        

11- Hoà Bình               35,8%        

12- Phú Thọ                32,7%

13- Cao Bằng              31,2%        

14- Lào Cai                 29,8%        

15- Lạng Sơn              29,3%

16- Lai Châu                28,7%        

17- Bắc Giang             25,6%        

18- Bình Phước            24,0%

19- Sơn La                  22,0%.

 

Bảng IV.1. Thống kê về hiện trạng rừng của Việt Nam vào thời điểm cuối năm 1999


Nguồn: Chương trình Kiểm kê rừng Nhà nước - 03/2001 TTg, công bố tháng 12 năm 2002

 

Theo thống kê mới năm 2003 (Bảng IV. 2), diện tích rừng đến năm cuối 2002 đã đạt 35,8% diện tích tự nhiên, một kết quả hết sức khả quan. Chúng ta vui mừng là độ che phủ rừng nước ta đã tăng lên khá nhanh trong những năm gần đây, tuy nhiên chất lượng rừng lại giảm sút đáng lo ngại (Hình IV.1)

 

Bảng IV.2. Diễn biến diện tích rừng qua các thời kỳ

Đơn vị tính: 1.000.000ha  

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tính đến tháng 12 năm 2003

 

Những con số thống kê về tăng diện tích rừng tự nhiên trong bảng IV.2 đã phần nào nói lên điều đó. Diện tích rừng tự nhiên nước ta giảm dần từ 14,3 triệu ha năm 1945 đến 8,2525 triệu ha năm 1995, bỗng nhiên tăng lên 9,470737 triệu ha năm 1999 và đến năm 2002 là 9,865020 triệu ha, như vậy là trong 7 năm mỗi năm trung bình tăng hơn 230.000ha. Diện tích rừng tự nhiên tăng chủ yếu do sự phát triển của rừng tái sinh và rừng tre nứa. Tất nhiên với thời gian ngắn, các loại rừng đó chưa có thể thành rừng tự nhiên tốt được.

Cũng cần chú ý là công tác thống kê rừng của chúng ta tới nay còn nhiều hạn chế, các số liệu về diện tích rừng được công bố rất khác nhau, tuỳ nguồn tài liệu, và tuỳ thời gian do thiếu thống nhất về phương pháp và các tiêu chí định lượng về rừng.

Theo đề tài KHCN 07-05 "Nghiên cứu biến động môi trường do thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên Tây Nguyên giai đoạn 1996 - 2010", thì từ năm 1996 đến năm 2000, ở các tỉnh Tây Nguyên, trung bình mỗi năm mất 10.000ha rừng tự nhiên (hơn cả diện tích rừng mất đi trung bình hàng năm trong thời kỳ kế hoạch 5 năm trước đó). Số liệu này có lẽ còn thấp hơn thực tế nhiều vì có nhiều nơi rừng bị phá mà không được thống kê. Các lâm trường thường khai thác gỗ vượt quá chỉ tiêu cho phép và không theo đúng thiết kế được duyệt. Những năm 1996 - 1999 các tỉnh Tây Nguyên đã khai thác vượt kế hoạch 31%. Trong lúc đó chỉ tiêu trồng rừng vốn đã thấp nhưng triển khai thực tế vẫn không đạt diện tích và chất lượng yêu cầu. Cho đến hết năm 1999, việc trồng rừng sau 4 năm chỉ mới đạt được 36% diện tích của kế hoạch 5 năm. Sự suy giảm về độ che phủ rừng ở các vùng này cũng một phần do dân số tăng nhanh, nhất là dân di cư tự do đã tạo nhu cầu lớn về lâm sản và đất trồng trọt. Kết quả đã dẫn tới việc biến nhiều vùng rừng thành vùng đất hoang cằn cỗi.

Theo kết quả của Viện Điều tra và Quy hoạch rừng (1995), thì trong thời gian 20 năm từ năm 1975 đến năm 1995, diện tích rừng tự nhiên giảm 2,8 triệu ha. Đặc biệt nghiêm trọng ở một số vùng, như Tây Nguyên mất 440.000ha, vùng Đông Nam Bộ mất 308.000ha, vùng Bắc Khu IV cũ mất 243.000ha, vùng Bắc Bộ mất 242.500ha. Nguyên nhân là do sau thời kỳ chiến tranh, dân địa phương tranh thủ chặt gỗ làm nhà và lấy đất trồng trọt. Tình trạng đó vẫn còn đang tiếp diễn cho đến ngày nay. Vụ phá rừng Tánh Linh, Bình Thuận vừa bị xét xử là một bằng chứng về sự yếu kém trong quản lý tài nguyên rừng, nạn tham nhũng và thoái hoá của một số cán bộ địa phương đã cấu kết với bọn lâm tặc phá hoại một diện tích rừng rất lớn, mà phải sau một thời gian dài mới bị trừng trị. Đó là chưa nói đến nhiều vụ phá rừng nghiêm trọng trong mấy năm gần đây chưa bị pháp luật trừng trị một cách nghiêm khắc, như ở Kon Tum, Gia Lai, Bình Thuận, Nghệ An, Bắc Giang, Vườn quốc gia Phú Quốc mà báo chí đã đưa tin (2003). Gần đây nhất mới phát hiện vụ phá rừng lớn trái phép tại Vườn quốc gia Kon Ka Kinh. Tại hiện trường, cơ quan điều tra đã phát hiện một số lượng lớn gỗ, hơn 2.400m3 do giám đốc Lâm trường Mang Đen, giám đốc Lâm trường Tân Lập cầm đầu, cùng với một số người khác, như trưởng trạm cửa rừng Lâm trường Mang Đen, giám đốc một số công ty trách nhiệm hữu hạn ở Kon Tum và thành phố Hồ Chí Minh khai thác bất hợp pháp. Một số lượng gỗ lớn bị khai thác trong thời gian dài mà không bị phát hiện đã minh chứng sự buông lỏng quản lý của các cơ quan có trách nhiệm, đặc biệt là các cơ quan cấp phép và quản lý khai thác (Đài Truyền hình Việt Nam, VTV1, ngày 15-12-2003).

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, sáu tháng đầu năm 2003, cả nước đã xảy ra khoảng 15.000 vụ vi phạm lâm luật, hàng chục vụ kiểm lâm bị lâm tặc tấn công. Do giá trị mang lại từ lâm sản lớn, cho nên bọn lâm tặc không từ một thủ đoạn nào để đối phó, hành hung người thi hành công vụ (Báo Nhân dân, ngày 14-12-2003).

Trong 10 năm qua, đất nông nghiệp tại Tây Nguyên tăng lên rất nhanh, từ 8,0% năm 1991 lên đến 22,6% năm 2000 (454.300ha so với 1.233.600ha, gấp 2,7 lần), trong lúc đó đất lâm nghiệp giảm từ 59,2% xuống còn 54,9% đất tự nhiên (3,329 triệu ha so với 2,993 triệu ha). So sánh trong cả nước thì trong vòng 10 năm qua, Tây Nguyên là vùng mà rừng bị giảm sút với mức độ đáng lo ngại nhất, đặc biệt là ở Đắk Lắk. Kết quả đã dẫn đến việc biến nhiều vùng có hệ sinh thái rừng tốt tươi, ổn định thành vùng mà hệ sinh thái bị đảo lộn, mất cân bằng, dẫn đến lũ lụt, sụt lở đất, hạn hán và có nhiều khả năng thiếu nước trầm trọng trong mùa khô, kể cả nguồn nước ngầm.

Thật khó mà ước tính được tổn thất về rừng và lâm sản hàng năm ở Việt Nam. Theo thống kê, năm 1991 có 20.257ha rừng bị phá, năm 1995 giảm xuống còn 18.914ha và năm 2000 là 3.542ha. Tuy nhiên, theo Báo cáo Hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2000 thì có thể ước định rằng tỷ lệ mất rừng hiện nay là khoảng 120.000 đến 150.000ha/năm và rừng trồng hàng năm khoảng 200.000ha và mục tiêu là trồng càng nhanh càng tốt để đạt 300.000ha/năm.

Trong giai đoạn từ năm 1990 đến nay, chiều hướng biến động rừng cơ bản vẫn ở tình trạng suy thoái, còn xa mức ổn định và mức cần thiết để bảo vệ môi trường. Tuy một số diện tích rừng thứ sinh tự nhiên được phục hồi, nhưng nhiều diện tích rừng già và rừng trồng chưa đến tuổi thành thục đã bị xâm hại, đốn chặt, "khai hoang". Từ năm 1999 đến nay, cháy rừng đã được hạn chế mạnh mẽ và việc khai thác gỗ trái phép đã kiểm soát được một phần, nhưng tình trạng mất rừng vẫn ở mức độ nghiêm trọng. Rừng phòng hộ đầu nguồn trên lưu vực những con sông lớn ở nước ta vẫn đang bị phá hoại. Tuy diện tích rừng trồng có tăng lên hàng năm, nhưng với số lượng rất khiêm tốn và phần lớn rừng được trồng lại với mục đích kinh tế, sản xuất cây lấy gỗ ngắn ngày, cây mọc nhanh mà chưa ưu tiên trồng rừng tại các khu vực đầu nguồn. Rừng phòng hộ ở vùng hồ Hoà Bình đang ở mức báo động và đang suy giảm nghiêm trọng. Rừng phòng hộ các hồ chứa quy mô lớn như Trị An, Thác Mơ, Đa Nhim, Đa Mi và Yaly cũng trong tình trạng tương tự như rừng phòng hộ lưu vực hồ Hoà Bình trước kia mà vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn kịp thời. Rừng trên các vùng núi đá vôi, rừng ngập mặn ven biển vẫn tiếp tục bị xâm hại chưa kiểm soát được.

Sự mất mát và suy giảm rừng là không thể bù đắp được và đã gây ra nhiều tổn thất lớn về kinh tế, về công ăn việc làm và cả về phát triển xã hội một cách lâu dài. Những trận lụt rất lớn trong mấy năm qua ở hầu khắp các vùng của đất nước, từ Bắc chí Nam, từ miền núi đến miền đồng bằng, nhất là các trận lụt ở sáu tỉnh miền Trung, ở Đồng bằng sông Cửu Long, các trận lũ quét ở một số tỉnh miền Bắc, và trận lũ tháng 9-2002, tại các tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An, đặc biệt ở các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Nam Đàn và Hưng Nguyên, và tiếp theo là lũ lụt ở Bình Định tháng 11-2002 đã gây ra nhiều tổn thất nặng nề về nhân mạng, mùa màng, nhà cửa, ruộng vườn, đường sá... một phần quan trọng cũng do sự suy thoái rừng, nhất là rừng đầu nguồn bị tàn phá quá nhiều. Trong những năm qua, hạn hán xảy ra ở nhiều nơi mà chúng ta cho là ảnh hưởng của hiện tượng El Nino. Nhưng cũng cần nói thêm rằng là các hoạt động phát triển kinh tế thiếu cân nhắc đã phá huỷ nhiều hệ sinh thái rừng, nhất là rừng đầu nguồn và góp phần làm cho hậu quả thiên tai càng nặng nề hơn. Trận lũ lớn xảy ra vào cuối tháng 10-2003 tại các tỉnh miền Trung: Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đã cướp đi sinh mạng của 52 người, hàng nghìn gia đình không còn nhà cửa, hàng chục nghìn ha lúa và hoa màu bị thiệt  hại, ước tính hơn 260 tỷ đồng (Báo Lao động, Vietnam News, 10-2003, UNDP ngày 13-11-2003). Trận lũ vừa xảy ra tại các tỉnh miền Trung từ Bình Định đến Ninh Thuận vào giữa tháng 11-2003 gây thiệt  hại còn nặng nề hơn trận lũ trước (Đài Truyền hình Việt Nam, VTV1, ngày 13-11-2003).

 

Trồng rừng và bảo vệ rừng còn chưa được như mong muốn

Nhận thức được việc mất rừng là tổn thất nghiêm trọng đang đe dọa sức sinh sản lâu dài của nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo, nhân dân Việt Nam đang thực hiện một chương trình rộng lớn nhằm xanh hóa những vùng đất bị tổn thất do chiến tranh và sửa chữa những sai lầm trong công cuộc phát triển thiếu quy hoạch của mình trong những năm qua. Mục tiêu là đến năm 2010 sẽ phủ xanh được 43% diện tích cả nước, với hy vọng phục hồi lại sự cân bằng sinh thái ở Việt Nam, bảo tồn đa dạng sinh học và góp phần vào việc làm chậm quá trình nóng lên toàn cầu.

 

Khung IV.1. hạn hán Ở TÂY NGUYÊN

"Theo Vietnam Express ngày 19-4-2003: mực nước trên các ao hồ, sông suối ở Tây Nguyên tiếp tục giảm. Dòng chảy trên các sông, suối đều nhỏ hơn trung bình cùng kỳ 20 - 30%. Một số hồ nước đã thấp hơn mực nước chết như là Rung (Gia Lai), Krông Buk Hạ, Ea Súp Hạ, Núi lửa (Đắk Lắk), Đắk Sa Nen, Đắc Brông, Hồ Che, La Bang Thượng (Kon Tum).

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (4-2003), Đắk Lắk bị thiệt  hại nhiều nhất, 250.000 hộ dân ở đây đang lâm vào cảnh đói và rất cần sự hỗ trợ. 62.000 hộ khác đang ngóng trời cầu mưa và hơn hai tháng nay họ phải đi vài cây số mới lấy được một hai bình nước. Về nông nghiệp, 5.790ha lúa đông Xuân, 40.440ha cà phê, 1.420ha rau màu tập trung ở các huyện Krông Pắk, Krông Buk, Krông Năng, Ea Kar... đang bị cạn kiệt nguồn nước tưới tiêu. Tỉnh đã chi khoảng 40 tỷ đồng và nhân dân đầu tư 35 tỷ đồng cho công tác chống hạn, tuy nhiên vẫn đành chấp nhận để nhiều diện tích lúa và cà phê bị mất trắng.

Tỉnh Gia Lai dù đã trích ngân sách 800 triệu đồng cho công tác chống hạn, nhưng hiện vẫn có 37.000 người thiếu lương thực, hơn 4.000 hộ dân với 21.420 nhân khẩu tập trung ở các huyện phía đông Trường Sơn bị khan hiếm nguồn nước sinh hoạt. 998ha lúa đông Xuân, 1.170ha cà phê, 740ha ngô cũng đang bị nứt nẻ, héo rũ.

Tại Kon Tum hiện có 32.500 người thiếu ăn, 2.800 hộ dân với 11.520 người tập trung ở huyện Ngọc Hồi, Kon Rẫy, Đắk Tô, Sa Thầy, thị xã Kon Tum bị thiếu nước sinh hoạt. 360ha lúa đông Xuân, 59ha cà phê, 50ha mía cũng trong cảnh khát nước. Kon Tum đã trích 100 triệu đồng từ ngân sách của tỉnh để mua 5 máy bơm và nhiên liệu phục vụ cho việc bơm nước tưới tiêu.

Nam Trung Bộ cũng trong tình trạng khô hạn nặng. Diện tích lúa đông Xuân bị thiếu nước là 4.650ha, trong đó Bình Thuận là 3.530ha, Ninh Thuận 610ha, Phú Yên 510ha. Đặc biệt có khoảng 11.000 người ở Bình Thuận và 18 xã ở Phú Yên đang thiếu nước sinh hoạt."

Nguồn: Vietnam Express, ngày 19-4-2003  

 

Một chương trình nữa về khoanh nuôi rừng và trồng rừng đang được thực hiện bằng cách xây dựng những vùng rừng đệm và rừng trồng kinh tế để cung cấp gỗ củi và gỗ xây dựng cho nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, việc trồng rừng hiện nay còn chú ý nhiều đến việc trồng thuần loại hay là trồng các loài cây nhập nội mà ít chú ý tạo ra những loại rừng hỗn giao với các loài cây bản địa, có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện và khí hậu địa phương.

Trong những năm qua Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và chính quyền địa phương đã quan tâm nhiều hơn đến vấn đề bảo vệ rừng và trồng rừng, nên diện tích rừng bị phá huỷ có giảm so với những năm trước, việc trồng rừng tăng nhanh hơn. Các chính sách hỗ trợ công tác bảo vệ và phát triển rừng như Quy định về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp (Nghị định số 02/CP), Quy định về việc khoán bảo vệ rừng và phát triển rừng (Quyết định 202/TTg), Chỉ thị của Chính phủ về việc tăng cường quản lý bảo vệ rừng (Chỉ thị 286/TTg) đã được quần chúng hoan nghênh và thực hiện.

 

Khung IV.2. MỘT SỐ MÔ HÌNH TRỒNG RỪNG TỐT

Tại nhiều tỉnh miền núi đã có những thành công trong việc trồng rừng, nhiều mô hình trồng rừng phối hợp với phát triển nông nghiệp đạt kết quả rất đáng khích lệ và gần đây thành công của ông Ngô Văn Lý - nông dân xóm Cồn Chay, huyện Bố Trạch, Quảng Bình trong việc đưa cây huỷnh (Tarretia javanica) một loại cây rừng có gỗ vừa đẹp lại vừa dai và chịu được nước về trồng tại vườn nhà và trên các đồi trọc trong huyện theo phương thức nông lâm kết hợp (dùng cây huỷnh làm choái trồng tiêu) là một ví dụ về trồng rừng có hiệu quả kinh tế cao. Mô hình này đã được người dân nhiều nơi học tập và mở rộng. Mô hình trồng cây báng nước làm choái tiêu ở Phú Quốc cũng đã giảm được việc phá rừng.

Nguồn: Vũ Đăng Dũng, 2003  

 

Các văn bản pháp luật, các chính sách thích hợp của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tạo điều kiện cho sự phát triển nhanh và mạnh hơn về công tác bảo vệ thiên nhiên ở miền núi trong 10 năm qua. Kết quả cụ thể là trong số 11.784.589ha đất lâm nghiệp hiện có của cả nước tính đến tháng 12-2003, đã có 7.956.592ha được Nhà nước giao và công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho các "chủ rừng" phân theo các đối tượng như sau:

  • Doanh nghiệp Nhà nước quản lý: 3.394.052ha;

  • Các ban quản lý rừng phòng hộ quản lý: 1.068.571ha;

  • Các ban quản lý rừng đặc dụng quản lý: 1.337.963ha;

  • Hộ gia đình và tập thể quản lý: 2.738.917ha;

  • Xí nghiệp liên doanh quản lý: 25.647ha;

  • Lực lượng vũ trang quản lý: 95.605ha;

  • Uỷ ban nhân dân quản lý: 229.201ha;

  • Đối tượng khác quản lý: 2.447.772ha.

Ngoài các hình thức giao đất, khoán rừng, trong 10 năm qua, một hình thức bảo vệ rừng khác cũng đã được thực hiện ở một số nơi, đó là việc "nhận khoán bảo vệ rừng". Đây là hình thức hợp đồng dài hay ngắn hạn giữa "chủ rừng" với cá nhân, hộ gia đình, tập thể hay các cơ quan, đơn vị của Nhà nước để tăng cường công tác bảo vệ rừng. Tới nay đã có 918.326ha rừng được nhận khoán quản lý bảo vệ và 214.000ha rừng được các cộng đồng địa phương quản lý theo hình thức truyền thống (Hà Công Tuấn, 2001).

 

Khung IV.3. CỘNG ĐỒNG XÃ PHÚC SEN PHỤC HỒI RỪNG

Bia ký đặt trong miếu thờ của làng, dưới một gốc cây nghiến (Parapentace tonkinense) cổ thụ được gọi là Cây Tổ, ghi rõ: "Hai anh em có tên Kỳ Lộc và Kỳ Thái từ phương xa dắt díu cộng đồng dòng tộc di cư về chốn này nương thân (lánh xa các biến cố lịch sử ở quê hương). Chốn này là một vùng núi đá vôi hiểm trở, rừng già bạt ngàn, có mó nước ngầm từ khe đá tuôn chảy ngày đêm. Cộng đồng họ Kỳ vốn thuộc tộc người Nùng An, thuở cắm đất chốn tái định cư này chưa có ruộng, cộng đồng phát huy nghề truyền thống rèn nông cụ và các đồ gia dụng kim loại, bán đi khắp các vùng của xứ Cao Bằng". Tính theo bia ký, đến nay cộng đồng họ Kỳ đã lập làng nơi quê mới này hơn 200 năm (12 đời người). Nghề rèn ưa than gỗ nghiến, nhiệt lượng cao, ít khói, ít tàn, đồ làm ra vừa bền vừa đẹp. Cây nghiến chỉ mọc trên núi đá, gỗ cứng và rất quý. Thế rồi từ thuở ban đầu người anh Kỳ Lộc lập làng Chang Trên, người em lập làng Chang Dưới. Từ đời thứ tư trở đi lập thêm tới 10 làng nữa và trở thành một xã người Nùng An với tên là xã Phúc Sen, thuộc huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng. Ngày đêm rộn ràng tiếng búa đe xen với tiếng bễ rèn, và cây nghiến trên núi đá được chặt lấy gỗ hầm than... Đến đời thứ 10, cả 12 làng của xã Phúc Sen lâm vào nạn khô kiệt nguồn nước mó, đất hoang hóa và rừng trên núi đá xác xơ tàn lụi.

Ngày ấy vào năm 1960, Bác Hồ kêu gọi toàn dân hưởng ứng Tết trồng cây, ông Kỳ Vinh già làng tộc trưởng thứ 10 cùng ông Kỳ Lợi bí thư Đảng uỷ xã, đứng ra tổ chức phong trào trồng cây gây rừng toàn xã Phúc Sen, chuyển đổi từ nghề rèn sang thâm canh lúa và trang trại cây đặc sản, lập hương luật bảo vệ rừng và trồng lại rừng. Suốt thời gian gần 50 năm trở lại đây, dân xã Phúc Sen phủ xanh lại 92% núi đá trọc, những nguồn nước mó từ khe đá lại tuôn chảy. Đặc biệt là việc khôi phục rừng hoàn toàn từ sức người sức của do cộng đồng toàn xã đóng góp. Kỳ diệu hơn cả lại là: phần lớn cây trồng khôi phục rừng gồm hai cây bản địa, là cây mắc rạc (Delavaya toxocarapa) đi trước tạo bóng, tạo nền cho đá, sau đó là nghiến dặm vào dưới nền xanh tiên phong để rồi rừng nghiến được phục hồi trên dãy núi đá vôi cháy bỏng đã bao nhiêu năm.

Trong ngày lễ đón nhận Giải thưởng Môi trường do Nhà nước trao tặng (vào năm 2002), ông Minh Nhật, hậu duệ thứ 12 dòng tộc họ Kỳ, thay mặt lãnh đạo xã, tay nâng niu tấm Chứng chỉ Giải thưởng, mắt ngấn lệ nói lời tri ân: "Bác Hồ còn là Thần Núi, Thần rừng, Thần cứu sinh của Phúc Sen".

Nguồn: Võ Trí Chung  

 

Tuy nhiên, theo kết quả tổng kiểm kê rừng toàn quốc tháng 1-2001, thì đến năm 1990, cả nước có 745.000ha rừng trồng, và đến năm 1999, tổng diện tích rừng trồng của cả nước là 1.524.323ha (Bảng IV.2), như thế có nghĩa là trong 9 năm qua, từ năm 1990 đến năm 1999 chúng ta chỉ trồng được có 779.323ha thành rừng, trung bình đạt 86.591ha/năm, chiếm khoảng 36% tổng diện tích trồng rừng hàng năm, một kết quả hết sức thấp so với mong muốn. Tuy nhiên, từ năm 2000 đến nay, công tác trồng rừng đạt kết quả khá hơn, hàng năm trung bình đã trồng được khoảng 130.000ha thành rừng.

Chương trình trồng 5 triệu ha rừng đang được các địa phương tích cực thực hiện. Theo kế hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì 2 triệu ha rừng sẽ được hồi phục và trồng dặm thêm, 2 triệu ha trồng mới và 1 triệu ha trồng các cây công nghiệp. Dù cho các chương trình trồng rừng có đạt được sớm, nhưng kết quả thành rừng thấp như trong 10 năm vừa qua thì cũng chưa thể bù đắp ngay được mức phá rừng hiện tại và cũng khó đạt được mục tiêu đề ra là sau cuối thập kỷ này độ che phủ rừng đạt 43% diện tích tự nhiên cả nước, tương đương mức che phủ rừng trước chiến tranh.


» Xem mục lục
» Xem các sách cùng thể loại
Món ngon gia đình
Món ngon gia đình

Các món ăn ngon, thông tin làm đẹp, chăm sóc bé.
Online Caro Game
Online Caro Game

Đọ sức với các cao thủ caro hàng đầu Việt Nam.