Sách Việt Nam Việt Nam môi trường và cuộc sống

Nước sạch và vệ sinh môi trường

Hiện trạng sử dụng nước sạch

Cho đến thời điểm hiện nay, vẫn còn trên 60% dân số nông thôn chưa có nước sạch để dùng. Nước mặt ở các sông, hồ, suối, ao đã nhiễm bẩn, nhiễm mặn. Tình hình khô hạn, thiếu nước sản xuất đang diễn ra gay gắt. Theo tin của Ban Chỉ đạo quốc gia về Chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường cho thấy cả nước có khoảng 43.729 hộ (215.720 người) thiếu nước sinh hoạt. Trong đó Đắk Lắk 12.580 hộ (126.610 người), Gia Lai 6.752 hộ (33.760 người), Ninh Thuận 11.720 hộ (58.600 người). Tại các vùng núi, vùng thưa dân, tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch chỉ đạt con số rất thấp. Bắc Kạn năm 1997 mới chỉ có 11% dân số được hưởng nước sạch, con số này mới chỉ tăng lên đến 24% vào năm 2002. Tại các tỉnh Đồng Tháp, Tây Ninh, con số này cũng chỉ dừng ở mức 25% và 28%. Trong toàn quốc có trên 60% hộ gia đình chưa có hố xí hợp vệ sinh, phóng uế tự do và dùng phân tươi bón cây, nuôi cá. Đó là những điều mà Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn còn chưa đạt được.

 

 

 

 

Dịch bệnh do ô nhiễm môi trường - vấn đề bức xúc tại khu vực nông thôn

Theo bác sĩ Nguyễn Huy Nga (Vụ Y tế dự phòng, Bộ Y tế): "Ở Việt Nam, chúng ta có gần 80% loại bệnh tật có liên quan đến chất lượng nước và vệ sinh môi trường mà chủ yếu là do chất lượng nước, nhất là các bệnh về đường ruột, bệnh tả, bệnh thương hàn,...".

Mục tiêu tiếp tục nâng cao tuổi thọ của người dân Việt Nam , hạ thấp tỷ lệ tử vong ở trẻ nhỏ sẽ không đạt được, khi chúng ta chưa thể giải quyết được "vấn nạn" ô nhiễm nguồn nước và môi trường. Tình hình càng trở nên cấp bách hơn, khi các loại bệnh xảy ra, đặc biệt là ỉa chảy, lỵ ngày càng có xu hướng gia tăng. Nếu như năm 1998, cả nước xảy ra 973.923 ca tiêu chảy, thì năm 2001 đã là 1.055.178 ca và năm 2002 1.062.440 ca. Đặc biệt những tháng đầu và cuối năm 2000 ở Đồng bằng sông Cửu Long đã xuất hiện hàng nghìn ca tả, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống người dân. Trong 6 tháng đầu năm 2003, dịch bệnh viêm não cấp của trẻ nhỏ dưới 15 tuổi lây truyền qua đường tiêu hoá đã gây ra 323 ca mắc bệnh trong đó có 33 ca tử vong.

Không chỉ dừng lại ở đó, hiện nay nông thôn Việt Nam , tỷ lệ người nhiễm giun sán, giun đũa, giun móc,... được xếp vào loại cao nhất thế giới. Những khảo sát gần đây cho thấy 100% trẻ em từ 4 - 14 tuổi ở nông thôn miền Bắc nhiễm giun đũa, từ 50 - 80% nhiễm giun móc. Các bệnh sán lá gan, lá lợn vẫn đang hoành hành,...

 

Thiếu nước nghiêm trọng tại các tỉnh miền núi và miền Trung

Nước ngầm và nước mặt trên lãnh thổ nước ta do phân bố không đồng đều, phụ thuộc vào lượng mưa hàng tháng nên đa phần khu vực miền núi, miền Trung rất thiếu nước, đặc biệt là vào mùa khô. Người dân thuộc các tỉnh vùng núi phía Bắc như Bắc Kạn, Lào Cai, Hà Giang và vùng Tây Nguyên, Bình Thuận, Ninh Thuận, số người nông dân tiếp xúc với nguồn nước sạch chỉ trên 28% và thường xuyên phải chịu khát ít nhất 1-2 tháng trong mùa khô. Dân cư của các huyện Quảng Ninh (Quảng Bình), Bố Trạch (Quảng Bình), thị trấn Đông Hà (Quảng Trị),... thường phải sống và trăn trở với nạn hạn hán và thiếu nước sinh hoạt.

Các vùng hạn nặng, như Tây Gio Linh, Vĩnh Linh, Triệu Phong (Quảng Bình), nhiều làng dân không có nước sinh hoạt phải chở nước xa 5 - 7km về. Tại các huyện Bình Sơn, Mộ Đức, Đức Phổ (Quảng Ngãi), trong mùa khô hạn các con sông lớn như Trà Khúc, Sông Vệ cũng bị khô cạn. Một số vùng phải đào lòng sông sâu xuống để lấy nước. Đợt hạn hán kéo dài từ mùa đông năm 2003 đến mùa xuân năm 2004 làm Đồng bằng Bắc Bộ thiếu nước nghiêm trọng, ảnh hưởng tới năng suất lúa Chiêm Xuân.

Nhiều công trình cấp nước tự chảy đã được đầu tư không phát huy được tác dụng vào những tháng mùa khô, ít mưa.

 

Bảng VI.1. Các bệnh lây lan qua đường nước  


Nguồn: Vụ Y tế Dự phòng, Bộ Y tế, 2002

 

Lũ lụt - nguy cơ thách thức việc đảm bảo cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường

Trong khi khu vực miền núi Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên và miền Trung thường phải đối mặt với việc thiếu nước gay gắt thì Đồng bằng sông Cửu Long nơi chiếm 12% diện tích cả nước (3,9 triệu ha) với dân số bằng 21% dân số cả nước lại phải đối mặt với các sự cố do lũ lụt gây ra. Lũ lụt không những gây trở ngại cho việc tổ chức sản xuất mà còn gây các ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân, đặc biệt là công tác vệ sinh môi trường, thu dọn rác thải, xác gia súc, gia cầm chết, mùi xú uế, rác thải tràn ngập sau những ngày ngập lũ.

Theo thống kê, hơn 70% số hộ sống ở vùng ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long thường xuyên phải dùng nguồn nước không đảm bảo vệ sinh. Số người bị ngộ độc theo đường nước gia tăng theo các năm tại vùng ngập lũ. Những tháng nóng là những tháng trọng điểm sốt xuất huyết tại khu vực. Mới chỉ 6 tháng đầu năm 2003 đã có 9.286 ca mắc bệnh, 22 ca tử vong, trong số đó tử vong do sốt xuất huyết tại thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre tăng 145% (18 trường hợp). Không những thế, nước nhiễm phèn, ô nhiễm nước từ các xí nghiệp chế biến hải sản, chuồng trại gia súc, do phân và rác thải của người và gia súc là vấn nạn của nhiều khu vực trong vùng.

 

Nước nhiễm phèn

Vấn đề cấp nước sinh hoạt cho một số tỉnh như Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang thuộc Đồng bằng sông Cửu Long đặc biệt khó khăn. Đây là khu vực phần lớn nước bị nhiễm phèn không thuận lợi trong việc sử dụng, bà con phải mua nước uống với giá cao đến hàng chục nghìn đồng/m3, trong khi nguồn nước mặt phong phú. Nước giếng khoan sâu đến 300m mới có thể sử dụng được, đào một giếng nước ăn được phải tốn kém gấp 10 -12 lần so với các khu vực khác.

Hệ thống cấp nước tại khu vực nông thôn, đa phần là các trạm cấp nước quy mô nhỏ, các giếng khoan gia đình, chất lượng nước không được kiểm tra thường xuyên do kinh phí hạn hẹp và việc quản lý chất lượng nguồn nước uống không đồng bộ. Hầu hết các mẫu nước lấy tại các tỉnh Đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long đều có vấn đề phải quan tâm. Khảo sát chất lượng nước ngầm của hai tỉnh Hà Nam và Nam Định tháng 10-2002 cho thấy phần lớn nguồn nước ngầm không đạt tiêu chuẩn vệ sinh nước uống và nước sinh hoạt theo Tiêu chuẩn Việt Nam 5501-1991, kể cả nước từ các trạm cấp nước tập trung cho cụm dân cư. Kết quả theo dõi chất lượng nước của 56 mẫu nước ngầm, 26 mẫu nước của các trạm cấp nước đã qua xử lý tại Nam Hà và Nam Định cho thấy hàm lượng NH4+ dao động trong khoảng 6,15 - 119,4mg/l, tần suất thường xuất hiện nhất trong khoảng 40 - 70mg/l. Hàm lượng các chất hữu cơ trong khoảng 2,56 - 88,8mg/l, tần suất xuất hiện nhiều nhất trong khoảng 20 - 40mg/l, trong khi nồng độ cho phép là 2mg/l. Trên 50% số mẫu nhiễm asen là chất rất độc hại, giới hạn tối đa cho phép1 là 10mg/l, đặc biệt có mẫu cao đến 733mg/l.

 

Bảng VI.2. Chất lượng nước cấp của một số trạm cấp nước tỉnh Hà Nam (10 - 2002)


Nguồn: Phòng Hóa môi trường, Viện Hóa học, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ quốc gia, 10- 2002

 

Hiện trạng vệ sinh môi truờng nông thôn

Khu vực Đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ có mật độ dân cư cao so với các khu vực khác trong cả nước. Đây cũng chính là những nơi cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm, sản phẩm tiêu dùng và tiểu thủ công nghiệp cho các đô thị của cả nước, nhưng cũng chính là nơi tiếp nhận các loại nguồn thải thải từ khu vực đô thị. Ô nhiễm nổi bật của khu vực là ô nhiễm do các bãi rác, ô nhiễm từ các nghĩa trang, ô nhiễm từ các khu vực giết mổ gia súc, ô nhiễm từ làng nghề. Cần phải kể ở đây truớc hết là ô nhiễm do chất thải phát triển chăn nuôi - hướng mũi nhọn tăng trưởng kinh tế của khu vực này.

 

Khung VI.4. CON SỐ THỐNG KÊ MÔI TRƯỜNG - SỨC KHỎE KHU VỰC MIỀN NÚI

Tỷ lệ bệnh ỉa chảy vùng núi Tây Bắc là 678,76/10000, ở mức cao so với các khu vực khác (Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long là 740,62/10000 và 308,93/10000). Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ dân miền núi ốm nặng không đến khám chữa tại các cơ sở y tế là 25%, số người ốm vừa không đến khám chữa bệnh là 36,6%, ốm thường là 58%. Có 70,2% phụ nữ dân tộc vùng Tây Bắc sinh đẻ tại nhà. Tỷ lệ phụ nữ nhiễm phụ khoa nặng năm 2001 là 15,23%, cao hơn so với khu vực đồng bằng sông Hồng (10,67%) và sông Cửu Long (13,91%). Nghèo, thiếu nước sạch khiến tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng nặng (Độ III) tại miền núi Tây Bắc là 1,2%, trong đó Lai Châu: 1.8%, Sơn La: 1,4%, Gia Lai: 1,1%, Đắk Lắk: 1,5%, vùng Cao Bằng: 1,9%, Hà Giang: 1,3%, Lào Cai: 1,2%. Sốt xuất huyết, sốt vi rút gây tỷ lệ người nhiễm và chết cao ở miền núi Đông Bắc (tỷ lệ 1,75/100.000).

 

Nguồn: Niên giám Thống kê y tế, 2002 và nghiên cứu của Phạm Thị Ngọc Thạch

 

Năm 2001, số lượng đàn trâu là 2.897.000 con, bò 4.127.000 con, dê 207.000 con, lợn 20.194.000 con, gia cầm 207.747.000 con. Như vậy, phân thải và nước thải chăn nuôi rất lớn gây mất vệ sinh môi trường.

Phát triển chăn nuôi cải thiện kinh tế gia đình trong điều kiện đầu tư về chuồng trại không hợp lý là một trong những nguyên nhân khiến cho nguồn nước ngầm của khu vực nông nghiệp trù phú có biểu hiện ô nhiễm bởi hàm lượng các chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và vi sinh vật. Nguy cơ dịch bệnh gia súc, nhiễm bệnh từ gia súc là mối lo ngại nếu không có các biện pháp quản lý chất thải và vệ sinh chuồng trại. Các bệnh dịch gia súc lớn như dịch lở mồm, long móng,... các bệnh truyền qua vật trung gian từ gia súc cho con người.

 

Bảng VI.3. Lượng phân gia súc ước tính năm 2000 theo các khu vực  

 


Nguồn: Niên giám thống kê, 2001

 

Bên cạnh đó, hoạt động của dịch vụ giết mổ gia súc diễn ra khá tràn lan, phổ biến ở khắp thôn xóm các tỉnh, thành, hiện không được quản lý. Không có các số liệu chính xác về quy mô và số lượng các dịch vụ này ở khu vực nông thôn. Nhiều khu vực đã lên tiếng báo động về ô nhiễm của loại hình này, đã đến lúc chính quyền địa phương, các cơ quan hữu trách cần phải phối hợp, có các biện pháp kiên quyết góp phần đem lại môi trường sống trong lành cho người dân.

 

Phải chăng nguồn chất thải tại khu vực nông thôn đang bị lãng phí

Tính trung bình một nhân khẩu nông thôn trong quá trình sản xuất và hoạt động sống sản sinh 2,345 tấn chất thải, trong đó 0,525 tấn chất thải rắn nguy hại, chất thải rắn không tái sử dụng được là 1,304 tấn. Trong đó số lượng phân trâu bò ước tính là rất lớn. Hiện nay chất thải phát sinh từ khu vực nông thôn chưa được tận dụng là một lãng phí lớn và là nguồn gây ô nhiễm môi trường. Chế biến phân bón hữu cơ từ rác thải, các mô hình hố rác di động ủ phân bón, kỹ thuật ủ phân bón hữu cơ cần được nhân rộng hơn nữa để tận dụng, xử lý nguồn rác thải này.

 

Khung VI.5. GIẾT MỔ GIA SÚC GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NGHIÊM TRỌNG

Thôn Văn Thai, xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng (Hải Dương) có nghề giết mổ trâu, bò, cách đây 50 - 60 năm. Hiện nay, làng có khoảng 15 - 20 lò giết mổ đang hoạt động. Lúc cao điểm lên đến hàng trăm lò. Lò nào mổ ít cũng đến 5 - 6 con/ngày, lò mổ nhiều lên tới 10 con/ngày. Nhiều lái trâu, lái bò thực thụ chuyên mua trâu, bò từ Sơn La, Lai Châu,... đem về bán cho các lò mổ. Nghề mổ trâu, bò chuyên nghiệp đến mức người ta chia nhau và chuyên thu mua và buôn bán một mặt hàng nhất định: người chuyên mua và buôn đầu, chân gia súc; kẻ chuyên mua thịt, xương từ các lò mang đi tiêu thụ, tại Hải Phòng, Hà Nội. Mỗi ngày làng Văn Thai cung cấp cho thị trường vài tấn thực phẩm: thịt, xương, da,...

Làm thịt mỗi con trâu bò nặng 400 - 500kg, chủ lò thu khoảng 100.000 đồng. Nghề giết thịt trâu, bò chẳng phải đầu tư vốn là bao nhưng vẫn có thể kiếm lời nhiều. Trâu, bò được nhốt tập trung trong các chuồng trại chờ đến ngày làm thịt đã thải ra một lượng phân lớn, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường. Một lượng nước thải giết thịt trâu, bò thải ra mương, sông gây ô nhiễm nguồn nước. Cộng với thói quen ngâm da, xương tươi ở bờ sông cuối thôn rất mất vệ sinh. Xã đã xây vài căn nhà tạm để các hộ tập kết xương, nhưng họ vẫn cố tình đổ tràn lan ra bờ sông, tạo nên một bãi xương thối rữa quanh năm. Bác Trần Văn Thu - một người dân trong làng cho biết, càng ngày tình trạng ô nhiễm càng trầm trọng, không thể chịu nổi. Ông Nguyễn Công Hùng - Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Cẩm Văn cho biết, xã đã quy hoạch khu đất 2.000m2 để xây dựng lò mổ, vận động các hộ vào hoạt động, nhưng ý định đó đã "không thực hiện được" bởi nhiều lý do. Xã chỉ có thể xây dựng được lò mổ tập trung khi có sự đóng góp của các hộ, thế nhưng các chủ lò không muốn đóng góp để tự gây khó dễ cho mình. Họ cho rằng vào lò mổ của xã vừa bị kiểm soát chặt chẽ về mọi mặt, vừa không được tự do làm ăn. Với tình trạng giết mổ gia súc tràn lan, không được giám sát chặt chẽ như hiện nay, ai dám đảm bảo các sản phẩm do làng làm ra đáp ứng được những yêu cầu về vệ sinh thực phẩm?

 

Nguồn: Khoa học và Phát triển, số 35+36, ngày 28-8 - ngày 10-9, 2003  

 

 

Một số đáp ứng về nước sạch và vệ sinh nông thôn

Để đáp ứng nhu cầu thiết thực của người dân về nước sạch và vệ sinh môi trường, Chính phủ đã có chỉ thị 200/TTg năm 1994 về đảm bảo nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn và đã thực hiện Chương trình mục tiêu chiến lược quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đến năm 2020 do Thủ tướng Chính Phủ ký duyệt ngày 25-8-2000.

Khắc phục nguyên nhân chính về thiếu nguồn nước sạch và các phế thải chăn nuôi, dịch bệnh gây ra do các tập quán sinh hoạt không hợp vệ sinh, Chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã tập trung chủ yếu vào xây dựng thêm khoảng 520.900 công trình cấp nước sạch cho trên 10,5 triệu người, tỷ lệ người dân có cơ hội sử dụng nước sạch tăng từ 32% lên 50%; xây dựng 1.228.000 hố xí hợp vệ sinh, nâng tỷ lệ số hộ nông thôn có loại hố xí này tăng từ 27% năm 1998 lên đến 37% năm 2003; Chương trình cũng hướng dẫn và xây dựng được 516.500 chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh, từ con số chỉ có 5% chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh trên toàn quốc năm 1998 lên đến 15% năm 2003. Đã có 33 làng sinh thái vệ sinh môi trường nông thôn sạch đẹp, 11 mô hình cấp huyện về vệ sinh môi trường chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại 11 tỉnh, góp phần vào việc nâng cao chất lượng sống tại khu vực nông thôn.

Tuy vậy, Chương trình chưa đạt các kết quả mong muốn, một phần do kinh phí được cấp bình quân trong năm là 800 tỷ đồng/năm (trong khi dự kiến là 2300 tỷ đồng/năm). Vệ sinh môi trường nông thôn mới chỉ đạt ở mức phát động phong trào, tuyên truyền, làm điểm, chưa được coi như một trong những chỉ tiêu kinh tế - xã hội mà các địa phương phải đạt. Vấn đề về kỹ thuật công nghệ và yếu tố quản lý còn nhiều bất cập, cần sớm có định hướng giải quyết.

 

Khung VI.6. MÔ HÌNH CẤP NƯỚC TỰ CHẢY Ở XÃ TÂN PHONG, HUYỆN KỲ SƠN, HÒA BÌNH

Xã Tân Phong (442 hộ với 2.434 nhân khẩu) thuộc huyện Kỳ Sơn, Hoà Bình, nơi có trên 98% đồng bào dân tộc Mường sinh sống, mức sống của xã còn rất thấp, lo ăn hàng ngày là mối lo thường xuyên. Chương trình Nước sạch đã tiến hành tập huấn nâng cao nhận thức về nước sạch và vệ sinh môi trường gắn liền với việc xây dựng hai hệ cấp nước tự chảy với 34 bể phân phối nước và hệ thống giếng nước hợp vệ sinh (sử dụng từ tháng 5-2001). Việc họp bàn các nhóm đại diện cộng đồng về số điểm cung cấp nước (với khoảng cách đến bể nước <70m) và việc thành lập ban quản lý nước (qua tập huấn) chịu trách nhiệm theo dõi thi công, duy tu bảo dưỡng hệ thống là một trong những yếu tố quyết định thành công.

Hiện nay trên 90% số hộ gia đình được tiếp cận với nguồn nước sạch. 100% số hộ được hỏi đã dùng nhiều nước hơn (50-57 l/người.ngày). Trước kia, họ thường xuyên gánh nước xa trên 400m, mỗi người chỉ dùng khoảng 10-15 l/người.ngày, tắm, giặt phải ra suối. Hiện nay, hàng tháng mỗi hộ gia đình trong xã tự nguyện quyên góp 2.000 đồng/tháng để duy tu, bảo dưỡng hệ thống cấp nước. Tuy vậy, trên 98% số hộ hiện không có phương tiện để dự trữ chủ động nước sinh hoạt. Dùng nước mưa đang còn xa lạ đối với bà con. Việc vận động bà con không chăn nuôi dưới gầm nhà sàn, di chuyển chuồng trại xa nơi ở, xây hố ủ phân cơ bản đã được thực hiện. Việc vận động bà con xây dựng hố xí hợp vệ sinh đang được tiếp tục triển khai tại xã Tân Phong. Sau Tân Phong, hệ cấp nước xã Dân Hạ, Kỳ Sơn được khởi công và đưa vào sử dụng tốt trong năm 2002.

 

Nguồn: Ngô Kim Chi  

Bên cạnh nhân tố về vốn, sự chỉ đạo của Chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường, sự quan tâm phối hợp đồng bộ của các cấp ngành tại địa phương, việc đẩy mạnh các mô hình của Chương trình một cách thích hợp là nhân tố thúc đẩy công tác nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Năm 2003, đã có 1.440 tỷ đồng để thực hiện Chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, vốn ngân sách 236 tỷ, các tổ chức quốc tế hỗ trợ 387 tỷ, ngân sách địa phương và nhân dân huy động là 817 tỷ cho xây dựng hàng nghìn công trình cấp nước sinh hoạt, 580.000 công trình vệ sinh môi trường nông thôn. Trong năm 2003 số dân được cấp nước sạch dự kiến sẽ lên đến 54%, dự kiến tăng 4% so với năm 2002. Phấn đấu đến 2005 có 80% dân số được hưởng nước sạch, 50% hộ gia đình dùng hố xí hợp vệ sinh, xử lý chất thải cho 30% chuồng trại chăn nuôi và 10% làng nghề truyền thống.

Phát triển biogas để cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường là một hướng đi phù hợp với điều kiện nước ta. Năng lượng do khí gas sinh ra dùng cho sinh hoạt đun nước, nấu cơm cho gia đình, giảm bớt vất vả bếp núc cho phụ nữ và tiết kiệm chi tiêu nhiên liệu cho gia đình, giảm bệnh tật, cải thiện môi trường sống. Tuy nhiên, xây dựng các bể biogas chỉ thích hợp với các hộ làm kinh tế chăn nuôi với số đầu lợn, gia súc lớn ổn định hay các hộ làm các nghề chế biến tinh bột, kết hợp với chăn nuôi,... có diện tích xây dựng hầm. Việc phát triển ồ ạt, xây dựng không đảm bảo kỹ thuật, không tính toán đến rò rỉ khí độc hại, an toàn cháy nổ là một yếu tố bất an cho sức khỏe người dân. Kinh nghiệm phát triển biogas cho thấy, có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương trong việc chỉ đạo, tuyên truyền vận động, mời đội ngũ kỹ thuật giỏi, kết hợp với sự tự nguyện thay đổi và cải thiện môi trường của các hộ gia đình, là những nhân tố dẫn đến thành công.

 

Những tồn tại cần tập trung giải quyết

Nhu cầu lớn về đa dạng hóa các loại hình cấp nước:

Việc đa dạng hóa loại hình cấp nước, trang bị các phương tiện chứa nước là những việc tưởng chừng rất nhỏ nhưng mang lại nhiều ý nghĩa to lớn. Đa dạng hoá loại hình cấp nước, dùng nước mặt, nước ngầm, nước mưa, đầu tư các bể, lu chứa nước hợp vệ sinh để bà con chủ động nguồn nước là rất cần thiết cho việc thay đổi các tập quán dùng rất ít nước cho nhu cầu vệ sinh cá nhân, tắm giặt ăn uống, vốn đã trở thành căn bệnh thâm căn cố đế của người dân do không được tiếp xúc thuận lợi với nguồn nước sạch.

Đẩy mạnh các mô hình cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường thích hợp thể hiện dưới một số góc cạnh sau:

  • Đẩy mạnh các mô hình công nghệ cấp nước phù hợp cho khu vực miền núi: giếng đào, giếng khoan, bể, lu,... để có thể tận dụng nguồn nước mưa dồi dào, sẵn có tại các vùng khan hiếm nguồn nước ngầm hoặc nguồn nước mặt bị ô nhiễm.

  • Xây dựng lu chứa nước giá thành rẻ bằng 30 - 40% xây bể. Kỹ thuật làm lu chứa đơn giản, dễ áp dụng, có thể áp dụng cho mọi miền sinh thái trong cả nước.

  • Mô hình cấp nước tự chảy, phù hợp với vùng núi cao, địa bàn dốc phục vụ cho nhóm hộ gia đình, bản, liên bản. Sử dụng nguồn nước tự nhiên kinh phí thấp, giảm nhẹ sức ép đối với tài nguyên nước ngầm. Hiện nay, trên cả nước có 500 hệ thống cấp nước tự chảy. Nguồn nước này bảo đảm tiêu chuẩn nước cấp cho sinh hoạt. Trong tương lai với việc tăng độ che phủ của rừng thì các hệ thống cấp nước tự chảy sẽ càng phát huy tác dụng cho các tỉnh miền núi.

  • Mô hình cung cấp nước tập trung vừa và nhỏ có chú trọng kiểm tra và kiểm soát chất lượng nguồn nước. Sử dụng giếng khoan đã có sẵn, lắp bơm điện, nối mạng phục vụ 20 - 100 hộ. Mô hình này rẻ tiền, phù hợp với Đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long và các vùng dân cư tập trung tại thị trấn nhỏ, làng xã.

  • Vùng có thể khai thác được nước mặt cần làm mô hình cấp nước tập trung quy mô phù hợp với phát triển dân cư và tiêu dùng. Gắn cung cấp nước sạch với quản lý toàn diện nguồn nước theo lưu vực sông để bảo vệ dòng sông và các nguồn lợi khác.

Khung VI.7. MÔ HÌNH CẤP NƯỚC SẠCH Ở HÀ GIANG

Hà Giang là một tỉnh miền núi cao, địa hình núi đá dốc, là tỉnh đặc biệt khó khăn của cả nước, dân trí phát triển kém. Việc cung cấp nước sạch của tỉnh đến tháng 6-2002 mới chỉ đạt 24%. Từ năm 2002, tỉnh chủ trương đầu tư hỗ trợ cho mỗi hộ gia đình 700kg xi măng và 300.000 đồng để dân tự xây bể chứa nước ăn cho gia đình. Đến cuối 2001 đã xây được 18.892 bể, đến cuối 2002 là 25.000 bể với 5 - 6 m3 đạt tiêu chuẩn tối thiểu 20l/người.ngày trong các tháng mùa khô. Trong năm 2001 - 2002 tình hình thiếu nước ăn giảm hẳn do dân đã tự dự trữ và chủ động về nguồn nước và giữ bể nước của mình sạch hơn.

 

Nguồn: Chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Việt Nam  

 

Cần có những biện pháp phổ cập công nghệ cung cấp nước sạch:

Công nghệ xử lý nước cấp ở khu vực Đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long hiện nay theo các nhà khoa học là không thích hợp để xử lý các nguồn nước có biểu hiện bị ô nhiễm bởi các chất dinh dưỡng nêu trên. Công nghệ được áp dụng cho các giếng khoan nước UNICEF, giếng khoan tư nhân, các hệ cấp nước tập trung quy mô nhỏ hiện theo một quy trình: bơm nước lên từ giếng, qua dàn phun mưa ôxy hóa tiếp xúc, lọc (lọc cát, lọc vật liệu nổi,...). Công nghệ này cho phép áp dụng đối với nguồn nước có chất lượng tương đối tốt, cho phép giảm được hàm lượng sắt có trong nước, tăng pH của nước, lọc trong nước. Công nghệ xử lý nước áp dụng cho các trạm cấp nước quy mô vừa và nhỏ, cấp nước tập trung cho cụm dân cư có thêm phần khử trùng với Cl2 (bằng dung dịch nước Javen, NaOCl). Nhưng việc khử trùng bằng Cl2 thường không có hiệu quả đối với nguồn nước có chứa nhiều amôni do phản ứng tạo cloruamin. Vậy nên, nếu nguồn nước bị ô nhiễm amôni, hầu hết công nghệ cấp nước áp dụng hiện nay sẽ không xử lý được amôni. Vì vậy, cần có biện pháp bổ sung công nghệ cung cấp nước sạch phù hợp với nguồn nước nhiễm amôni thông qua việc:

  • Từng bước kiểm soát, ngăn ngừa các ô nhiễm nguồn nước.

  • Khuyến khích các nhà khoa học, các cơ sở dịch vụ kỹ thuật ứng dụng và sáng chế công nghệ xử lý nước để có nước sạch, xử lý nước thải, vệ sinh môi trường bằng công nghệ cao thích hợp với điều kiện kinh tế của nước ta.

  • Nhân rộng các điển hình về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường ở vùng sâu, vùng xa. Khuyến khích sử dụng công nghệ lọc nước chua phèn, lọc nước mặn, xử lý các chất độc hại.

Xã hội hóa việc cung cấp nước sạch:

Công tác xã hội hoá cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường đã và đang được triển khai rộng rãi. Công tác xã hội hóa Chương trình Nước sạch có nhiều mặt tích cực về việc huy động nhiều nguồn lực, người dân tham gia quản lý đầu tư, nâng cao nhận thức của người dân về giá trị hàng hoá và tài nguyên nước. Tuy vậy, về mặt quản lý còn có nhiều khó khăn trong công tác quản lý khai thác, kinh doanh và bảo vệ nguồn nước. Mục tiêu chính cung cấp nguồn nước sinh hoạt có chất lượng tốt, bảo vệ nước ngầm nhiều khi không đảm bảo. Vì vậy cần phải:

  • Tăng cường giáo dục truyền thông về nước sạch và vệ sinh môi trường, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ biogas, xã hội hóa việc phát triển biogas và chế biến phân bón hữu cơ.

  • Xây dựng các làng sinh thái xanh - sạch - đẹp, tuyên truyền xây dựng các chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh.

  • Phối kết hợp lồng ghép công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, y tế, giáo dục chung của cả nước.

  • Tiếp tục đẩy mạnh và khuyến khích sự tham gia của các tổ chức kinh tế, xã hội vào công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường

  • Tăng cường các quan hệ quốc tế, đẩy mạnh chuyển giao và ứng dụng các công nghệ mới, công nghệ sạch trong sản xuất nông nghiệp.

Khung VI.8. MÔ HÌNH "HAI TỐI ĐA"

Chính phủ đã có nhiều chính sách, chiến lược, chương trình, dự án nhằm hiện đại hóa, công nghiệp hóa nông thôn. Gần đây có chủ trương "hai tối đa" đối với người dân nông thôn: tối đa không thu của người nông dân dưới bất kỳ hình thức nào và hỗ trợ tối đa cho người nông dân dưới nhiều hình thức, biện pháp và các nguồn khác nhau.

 

Nguồn: Nguyễn Nguyên Cương, Hội thảo Hội Môi trường nông thôn, 1-2003

 


» Xem mục lục
» Xem các sách cùng thể loại
Món ngon gia đình
Món ngon gia đình

Các món ăn ngon, thông tin làm đẹp, chăm sóc bé.
Online Caro Game
Online Caro Game

Đọ sức với các cao thủ caro hàng đầu Việt Nam.