Sách Lịch Sử Lịch sử Việt Nam Tư liệu lịch sử Việt Nam

Lịch sử lập Hiến Việt Nam

TƯ TƯỞNG LẬP HIẾN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến, có bộ máy thống trị trực tiếp của thực dân Pháp và triều đình Nhà Nguyễn theo chính thể quân chủ chuyên chế, nhưng thực chất là bộ máy tay sai của thực dân Pháp. Bởi vậy, nước ta là một thuộc địa không có hiến pháp.
Tuy nhiên vào những năm đầu thế kỷ XX, do ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản Pháp 1789, ảnh hưởng của cách mạng Trung Hoa năm 1911 và Chính sách duy tân mà Minh Trị Thiên Hoàng đã áp dụng tại Nhật Bản, trong giới trí thức Việt Nam đã xuất hiện tư tưởng lập hiến. Có hai khuynh hướng chính trị chủ yếu trong thời gian này. Khuynh hướng thứ nhất của Phạm Quỳnh và Bùi Quang Chiêu. Cuộc bút chiến đã xảy ra giữa Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh về vấn đề trực trị hay quân chủ lập hiến. Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương bãi bỏ chế độ vua quan ở miền Bắc và miền Trung và đặt chúng dưới quyền cai trị trực tiếp của Chính phủ Pháp. Còn Phạm Quỳnh bênh vực chế độ vua quan cũ, cho rằng mặc dầu chế độ này có nhiều tệ tục, người ta vẫn có thể cải tiến chế độ cũ bằng cách áp dụng chế độ quân chủ lập hiến, nghĩa là ban hành một bản Hiến pháp để hạn chế quyền lực của Hoàng đế Việt Nam. Theo tư tưởng của Phạm Quỳnh và Bùi Quang Chiêu thì phải xây dựng một bản Hiến pháp vừa bảo đảm "quyền dân chủ" cho nhân dân, "quyền điều hành đất nước" của Hoàng đế và "quyền bảo hộ" của Chính phủ Pháp.
Như vậy thực chất tư tưởng của Phạm Quỳnh và Bùi Quang Chiêu dù trình bày cách này hay cách khác, người chủ trương xoá bỏ chế độ vua quan, người chủ trương thay thế chế độ quân chủ chuyên chế bằng chế độ quân chủ lập hiến, nhưng tựu trung vẫn đặt đất nước ta dưới sự thống trị của thực dân Pháp.
Khác với Phạm Quỳnh và Bùi Quang Chiêu, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và Nguyễn ái Quốc chủ trương phải giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, sau đó mới xây dựng Hiến pháp của nhà nước độc lập. Không có độc lập tự do thì không thể có Hiến pháp thực sự. Đây là khuynh hướng thứ hai và là khuynh hướng đúng đắn nhất.
Một trong những chiến sĩ tiên phong khởi xướng và truyền bá tư tưởng dân chủ và tư tưởng lập hiến ở Việt Nam là Phan Chu Trinh. Vào năm 1902, Phan Chu Trinh đã bắt đầu tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây và những tư tưởng cải cách đất nước của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Bạch. Hai nguồn tư tưởng này đã giúp ông đề xướng tư tưởng "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh", ông đã coi việc mở mang dân trí là tiền đề để xây dựng xã hội dân chủ. Là người phản đối kịch liệt chế độ quân chủ chuyên chế, ông thường nói: "Cái độc chuyên chế cùng cái hủ nho nhà ta đã trở thành chứng bệnh bất trị mà học thuyết tự do, dân quyền Âu Tây là vị thuốc đắng để chữa bệnh đó" . Ông đưa ra tư tưởng dân quyền, chủ trương bầu cử những người xứng đáng vào bộ máy Nhà nước. Trong Tỉnh quốc hồn ca ông viết:

"Người ta chẳng tưởng mơ quyền tước
Làm quan vốn giúp nước, giúp dân
Những người khanh tướng công thần
Ai ai cũng phải lấy dân làm nề
Nào là kẻ đủ bề tài trí.
Nào là người cả khí kinh luân
Tiếng khen khắp cả xa gần
Trong khi tuyển cử thì dân nó bầu "

Năm 1922, trong "Thư thất điều gửi Hoàng đế Khải Định", ông đã buộc tội nền quân chủ chuyên chế là nguyên nhân sâu xa làm cho dân tộc ta suy yếu và để mất độc lập, chủ quyền. Ông nêu ra 7 tội đáng phải chết của Khải Định là:
1) Tôn bậy quân quyền;
2) Thưởng phạt không công bình;
3) Chuộng sự quỳ lạy;
4) Tiêu xài hoang phí;
5) Phục sức không đúng phép tắc quân vương;
6) Chơi bời vô độ;
7) Chuyến này đi Pháp với mục đích ám muội, duy trì quân quyền.
Công kích Khải Định, ông nói rõ: "Đó chẳng phải là công kích cá nhân Bệ hạ mà là công kích một hôn quân, cũng không phải vì tư kỹ của Trinh này mà làm, mà vì hai mươi triệu đồng bào xô ngã chuyên chế, ủng hộ tự do vậy"1 . Đề cao tư tưởng dân chủ và lập hiến, ông viết: "Nhật Bản là nước đồng chủng, đồng giống với nước ta, bốn mươi năm trước, họ lập ra Hiến pháp cho dân được bầu cử Nghị viên, còn việc chính trị trong nước theo ý của dân, chứ vua không được chuyên quyền cả" .
Vào những năm cuối đời mình, tư tưởng xây dựng Hiến pháp và một nhà nước dân chủ của Phan Chu Trinh thể hiện rất đậm nét trong bài diễn thuyết: "Quân trị và dân trị chủ nghĩa" của ông tại Hội khuyến học Sài Gòn, ông đã nhấn mạnh: "Trong nước có Hiến pháp, ai cũng phải tôn trọng Hiến pháp, cái quyền của Chính phủ cũng bởi Hiến pháp quy định cho, lười biếng không được mà dẫu có muốn áp chế cũng không chỗ nào thò ra được. Vả lại khi có điều gì vi phạm đến pháp luật thì người nào cũng như người nào, từ ông Tổng thống cho đến một người nhà quê cũng chịu theo pháp luật như nhau" . So sánh chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ dân chủ ông viết: "So sánh hai cái chủ nghĩa quân trị và dân trị thì ta thấy chủ nghĩa dân trị hay hơn chủ nghĩa quân trị nhiều lắm. Lấy theo ý riêng của một người hay của một triều đình mà trị một nước thì cái nước ấy không khác nào một đàn dê được no ấm vui vẻ hay đói khát khổ sở tuỳ theo lòng của người chăn. Còn như theo cái chủ nghĩa dân trị thì quốc dân lập ra Hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ quan để lo việc chung của cả nước, lòng quốc dân thế nào thì làm thế đấy, dù không có người tài giỏi thì cũng không đến nỗi phải để dân khốn khổ làm tôi mọi một nhà, một họ nào" . Không những đề ra thuyết dân trị, Phan Chu Trinh còn phân tích rất sâu sắc cách thức tổ chức bộ máy Nhà nước theo học thuyết phân chia quyền lực của John Locke và Montesquieu của nước Pháp. Ông viết: "Đây tôi nói về cái chính thể bên Pháp. ở trong nước có Nghị viện gồm thượng viện và hạ viện. Hạ viện là viện quan hệ nhất; khi nào đặt Tổng thống hay thiếu mà đặt lại thì hợp người ở trong hai viện ấy mà bỏ thăm. Người ra ứng cử cũng ở trong hai viện ấy. Ai được nhiều thăm thì làm Tổng thống. Khi Tổng thống được bầu rồi thì phải thề trước mặt hai viện ấy rằng: Cứ giữ theo Hiến pháp dân chủ, không phản bạn, không theo Đảng này, chống Đảng kia, cứ giữ công bình, nếu có làm bậy thì dân trục xuất ngay... Còn chính phủ cũng bởi trong hai viện ấy mà ra. Nhưng mà giao quyền cho Đảng nào chiếm số nhiều trong hai Viện ấy thì lập Quốc vụ viện (tức Chính phủ, Toà nội các) theo Quốc vụ viện bây giờ chừng đâu cũng vài chục bộ nhưng mà không phải ăn không ngồi rồi như các ông thượng thơ ở bên ta đâu. Ông nào có trách nhiệm ông ấy cả. Cái gì mà không bằng lòng dân, thế nào cũng có người chỉ trích...". Phân tích cơ chế phân chia quyền lực, ông viết: "Cái quan chức về việc cai trị chỉ có quyền hành chính mà thôi, còn quyền xử án thì giao cho các quan án là những người học giỏi luật lệ, có bằng cấp; các quan án chỉ coi việc xử đoán, có quyền độc lập, cứ theo lương tâm công bình, chiếu theo pháp luật mà xử, xử chính phủ cũng như xử một người dân. Các quan án ở về một viện riêng gọi là Viện tư pháp. Quyền tư pháp cũng như quyền hành chính của Chính phủ và quyền lập pháp của Nghị viện đều đứng riêng ra, không hợp lại trong tay một người nào".
Điều đáng lưu ý nhất trong tư tưởng lập hiến, lập pháp trong tư duy triết học pháp quyền của Phan Chu Trinh chính là ở chỗ tuy đánh giá rất cao tư tưởng lập hiến, lập pháp của Montesquieu và của Rousseau nhưng ông hoàn toàn chống lại những người tiếp thu một cách máy móc tư tưởng phương Tây. Trong bài diễn thuyết "Đạo đức và luân lý Đông Tây", ông gọi những người nho học cũ bảo thủ là "hủ nho" còn loại người tây học mất gốc, sùng bái nước ngoài vô lối là "hủ tây" ông nói cả "hủ nho" "hủ tây" đều là loại người dân nước phải biết phân biệt để tránh xa, kẻo mang hoạ cho dân nước1 . Như vậy có thể thấy tư tưởng triết học pháp quyền của ông là phải biết gạn lọc những cái tiến bộ tinh tuý của tư tưởng dân chủ phương Tây cũng như những yếu tố dân chủ tốt đẹp của công xã nông thôn và đạo đức luân lý thuần khiết của phương Đông để xây dựng nền Hiến pháp và pháp luật cho nước nhà khi dân ta làm chủ đất nước.
Cũng là những người yêu nước, tìm đường cứu nước, nhưng Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu có những chính kiến riêng của mình. Tư tưởng của Phan Bội Châu là đoàn kết nhân dân lao động đánh đuổi thực dân Pháp rồi tiến hành canh tân xã hội. Còn Phan Chu Trinh chủ trương đoàn kết nhân dân canh tân, dân chủ hoá xã hội, đánh đổ phong kiến noi theo phương Tây, tự cường dân tộc, giành độc lập. Do hạn chế của hoàn cảnh lịch sử mà cả Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh ở mức độ khác nhau đều chưa nhận thức được bản chất thực sự của chủ nghĩa đế quốc. Nhưng có thể nói rằng tư tưởng lớn của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh là hai mạch nguồn quan trọng trong tư tưởng của Nguyễn ái Quốc, trong đó có tư tưởng lập hiến. Nhờ ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn ái Quốc đã khắc phục được những hạn chế của hai ông, phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của Nguyễn ái Quốc đã kết hợp được ngọn cờ phản đế và phản phong mới đi đến thắng lợi .
Đầu năm 1919, nhà cách mạng Nguyễn ái Quốc đã gửi Yêu sách của nhân dân An Nam cho Hội nghị Vessailles của các nước Đồng minh, trong đó đã thể hiện rõ tư tưởng lập hiến của Người. Sau Nguyễn ái Quốc lại dịch và diễn thành lời ca bản Yêu sách đó với tựa đề "Việt Nam yêu cầu ca" để tuyên truyền trong đồng bào Việt kiều sống trên đất Pháp. Trong tám điều yêu sách, đáng lưu ý là điều thứ bảy, đó là yêu cầu lập hiến lập pháp cho nhân dân Việt Nam:
"Bảy xin Hiến pháp ban hành Trăm điều phải có thần linh pháp quyền".
Sau khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 3-2-1930), Nguyễn ái Quốc vẫn theo đuổi tư tưởng lập hiến của mình. Trong các nhiệm vụ mà Hội nghị Trung ương tháng 11-1940 do Nguyễn ái Quốc chủ trì đề ra có nhiệm vụ thứ ba là: ban bố Hiến pháp dân chủ, ban bố những quyền tự do dân chủ cho nhân dân, tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp2 .... Sau hơn 27 năm nung nấu tư tưởng của mình sau khi giành được độc lập cho dân tộc, Nguyễn ái Quốc trở thành Chủ tịch nước, Người mới thể hiện được tư tưởng của mình thành sự thật. Tư tưởng của Người được thể hiện trong Hiến pháp 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước nhà.

HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HIẾN PHÁP 1946

 1. Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp 1946

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản "Tuyên ngôn độc lập" khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngay sau đó, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 3-9-1945, Hồ Chủ tịch đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ. Một trong những nhiệm vụ cấp bách đó là xây dựng Hiến pháp. Người viết: "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ".
Ngày 20-9-1945, Chính phủ Lâm thời ra Sắc lệnh thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 người do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Tháng 11-1945, Ban dự thảo đã hoàn thành công việc và bản dự thảo được công bố cho toàn dân thảo luận. Hàng triệu người Việt Nam hăng hái tham gia đóng góp ý kiến cho bản dự thảo Hiến pháp chứa đựng mơ ước bao đời của nhân dân ta về độc lập và tự do.
Ngày 2-3-1946, Quốc hội đã nghe Chính phủ trình bày bản dự thảo Hiến pháp. Trên cơ sở đó, Quốc hội (Khoá I, Kỳ họp thứ nhất) đã thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 người, đại biểu của nhiều tổ chức, đảng phái khác nhau do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ban dự thảo có nhiệm vụ tổng kết các ý kiến đóng góp của nhân dân và xây dựng bản dự thảo cuối cùng để đưa ra Quốc hội xem xét và thông qua.
Ngày 28-10-1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội, kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I đã khai mạc. Ngày 9-11-1946, sau hơn mười ngày làm việc khẩn trương, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với 240 phiếu thuận, 2 phiếu chống.
Vào thời điểm Quốc hội thông qua Hiến pháp, thực dân Pháp phản bội các hiệp định đã ký kết với Chính phủ ta, chúng không ngừng khiêu khích và tấn công chúng ta bằng vũ lực, hòng lập lại ách thống trị của chúng ở Việt Nam. Trước tình hình đó, trong phiên họp ngày 9-11-1946, sau khi tuyên bố Hiến pháp đã trở thành chính thức, Quốc hội ra Nghị quyết giao nhiệm vụ cho Ban thường trực Quốc hội cùng với Chính phủ ban bố và thi hành Hiến pháp khi có điều kiện thuận lợi. Theo Nghị quyết của Quốc hội trong điều kiện chưa thi hành được Hiến pháp thì Chính phủ phải dựa vào những nguyên tắc đã quy định trong Hiến pháp để ban hành các sắc luật. Ngày 19-12-1946, mười ngày sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Do hoàn cảnh chiến tranh mà Hiến pháp 1946 không được chính thức công bố, việc tổ chức tổng tuyển cử bầu Nghị viện nhân dân không có điều kiện thực hiện. Tuy nhiên Chính phủ dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Ban thường vụ Quốc hội luôn luôn dựa vào tinh thần và nội dung của Hiến pháp 1946 để điều hành mọi hoạt động của Nhà nước.

2. Nội dung cơ bản của Hiến pháp 1946

Hiến pháp năm 1946 bao gồm lời nói đầu và 7 chương, 70 điều.
Lời nói đầu xác định nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ. Lời nói đầu đã xác định ba nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp.
Đó là những nguyên tắc sau đây:
- Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo.
- Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.
- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.
Chương I: Quy định hình thức chính thể của Nhà nước ta là dân chủ cộng hoà.
Chương II: Quy định về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân.
Chương III: Quy định về cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất - Nghị viện nhân dân.
Chương IV: Quy định về Chính phủ - cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất.
Chương V: Quy định về Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân - cơ quan quyền lực và cơ quan hành chính Nhà nước, địa phương.
Chương VI: Quy định về cơ quan tư pháp - cơ quan xét xử của Nhà nước.
Chương VII: Quy định về vấn đề sửa đổi Hiến pháp.
Toàn bộ 7 chương của Hiến pháp đều được xây dựng dựa trên ba nguyên tắc cơ bản đã nói trên. Chính ba nguyên tắc này đã thể hiện ba đặc điểm cơ bản của Hiến pháp 1946.
Xây dựng trên nguyên tắc đoàn kết toàn dân, Điều I của Hiến pháp viết: "Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền hành trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo". Đây là một bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của Nhà nước Việt Nam. Lần đầu tiên ở nước ta cũng như ở Đông Nam á một nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập, và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, hình thức chính thể là hình thức cộng hoà. Đó là bước ngoặt lớn trong sự phát triển của tư tưởng dân chủ; quy định trên đây cũng đề cao tính dân tộc của Nhà nước. Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên do Bác Hồ khai sinh là Nhà nước độc lập của một dân tộc hơn tám mươi năm đấu tranh để giành lại chủ quyền cho đất nước, phá bỏ ách áp bức của thực dân và phế bỏ chế độ vua quan. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, không những có sự tham gia của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức, binh lính - mà còn có sự tham gia của những người xuất thân từ tầng lớp địa chủ, tư sản nhưng yêu nước thương nòi. Vì thế, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên của ta là Nhà nước đoàn kết toàn dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.
Tuân thủ nguyên tắc "Đảm bảo các quyền tự do dân chủ", Hiến pháp 1946 rất chú trọng đến chế định công dân. Điều đó thể hiện ở chỗ Hiến pháp có 7 chương thì chương II dành cho chế định công dân. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, nhân dân Việt Nam được đảm bảo có quyền tự do, dân chủ. Điều 10 Hiến pháp quy định: "Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài". Hiến pháp 1946 là một bản Hiến pháp dân chủ rộng rãi. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi công dân được pháp luật ghi nhận (Điều 6,7) và cũng lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, phụ nữ được ngang quyền với nam giới trong mọi phương diện. Với bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta, công dân Việt Nam được hưởng quyền bầu cử, ứng cử, nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu do mình bầu ra khi họ không tỏ ra xứng đáng với danh hiệu đó.
Khác với Hiến pháp đầu tiên của nước Nga Xô viết năm 1918, nơi mà mọi tài sản tư hữu của giai cấp địa chủ và tư sản bị quốc hữu hoá, Hiến pháp 1946 bảo vệ quyền tư hữu tài sản của mọi công dân Việt Nam.
Dựa trên nguyên tắc thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân, hình thức Nhà nước theo Hiến pháp 1946 có nhiều nét độc đáo đáng chú ý. Khác với Hiến pháp 1959, đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng; theo Hiến pháp 1946, người đứng đầu Chính phủ là Chủ tịch nước. Thành phần Chính phủ gồm có: Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước và Nội các. Nội các gồm có các bộ trưởng, thứ trưởng, có thể có Phó Thủ tướng (Điều 44). Như vậy theo bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta, Chủ tịch nước vừa là người đứng đầu Nhà nước vừa là người đứng đầu Chính phủ. Mặt khác, Chủ tịch nước có quyền phủ quyết. Quyền đó thể hiện ở Điều 31 và 54. Điều 31 Hiến pháp quy định: "Những luật đã được Nghị viện biểu quyết, Chủ tịch nước phải ban bố chậm nhất là mười hôm sau khi nhận được thông tin. Nhưng trong thời hạn ấy, Chủ tịch có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại, nếu vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch phải ban bố". Còn ở Điều 54, Hiến pháp quy định "Trong hạn 24 giờ, sau khi Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm Nội các thì Chủ tịch nước có quyền đưa vấn đề tín nhiệm ra Nghị viện thảo luận lại. Như vậy hình thức Chính thể của Nhà nước ta theo Hiến pháp 1946 có phần giống hình thức cộng hoà tổng thống. Nhưng Chủ tịch nước của ta theo Hiến pháp 1946 không phải do cử tri trực tiếp bầu ra mà do Nghị viện nhân dân bầu ra. Mặt khác, Chủ tịch nước chọn Thủ tướng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết. Thủ tướng chọn Bộ trưởng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết. Chính phủ chịu sự kiểm soát của Nghị viện. Bộ trưởng nào không được Nghị viện tín nhiệm thì phải từ chức. Những quy định trên cho ta thấy hình thức chính thể của Nhà nước ta theo Hiến pháp 1946 là hình thức kết hợp giữa cộng hoà tổng thống và cộng hoà nghị viện. Nhưng nét độc đáo của nó còn thể hiện ở chỗ nó không hề giống hoàn toàn hình thức chính thể của những nước cũng có hình thức pha trộn như Pháp, Phần Lan, Bồ Đào Nha,....
Qua những nét phân tích ở trên, chúng ta thấy rằng Hiến pháp đầu tiên của nước ta - Hiến pháp 1946 là một Hiến pháp dân chủ tiến bộ không kém bất kỳ một bản Hiến pháp nào trên thế giới.
Về kỹ thuật lập pháp, Hiến pháp 1946 là một bản Hiến pháp cô đúc, khúc chiết, mạch lạc và dễ hiểu với tất cả mọi người. Nó là một bản Hiến pháp mẫu mực trên nhiều phương diện.

HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HIẾN PHÁP 1959

 1. Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp 1959

Tính đến thời điểm năm 1959, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra đời và phát triển được 14 năm. Đó là một khoảng thời gian có nhiều sự kiện chính trị quan trọng làm thay đổi tình hình chính trị, xã hội và kinh tế của đất nước.
Ngay sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp 1946, thực dân Pháp lại gây ra chiến tranh để xâm lược nước ta một lần nữa. Nhân dân ta đã đoàn kết chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, kiên quyết đập tan âm mưu nô dịch của thực dân Pháp và bè lũ tay sai bán nước. Với Chiến thắng Điện Biên Phủ và Hội nghị Giơnevơ thắng lợi, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng. Đất nước còn tạm thời chia làm hai miền và việc thống nhất đất nước theo Hiệp định sẽ được thực hiện sau hai năm bằng cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước do chính quyền hai miền hiệp thương tổ chức.
Nhưng sau khi hất cẳng Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã vi phạm Hiệp định Giơnevơ, từ chối hiệp thương tổng tuyển cử để thống nhất nước ta. Vì vậy nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới này là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Trong ba năm (1955-1957), ở miền Bắc, chúng ta đã hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế. Năm 1958, chúng ta bắt đầu thực hiện kế hoạch kinh tế ba năm nhằm phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội. Về kinh tế và văn hoá, chúng ta đã có những tiến bộ lớn. Thí dụ, "từ năm 1955 đến năm 1959, sản lượng thóc đã tăng từ 3 triệu 60 vạn tấn đến 5 triệu 20 vạn tấn. Về công nghiệp , năm 1955 chúng ta chỉ có 17 xí nghiệp quốc doanh năm 1959 đã có 107 xí nghiệp quốc doanh. Số hợp tác xã sản xuất nông nghiệp cấp thấp chiếm 43,9% tổng số nông hộ, đa số nông hộ chưa vào hợp tác xã đã vào tổ đổi công, 53% tổng số thợ thủ công vào các tổ chức hợp tác xã. Về văn hoá, chúng ta đã có những bước tiến bộ lớn. So với năm 1955, số học sinh phổ thông tăng lên gấp 2 lần; số học sinh trường chuyên nghiệp trung cấp tăng lên gấp 6 lần; số sinh viên đại học tăng lên gấp 7 lần; số bác sĩ y khoa tăng 80% ".
Đi đôi với những thắng lợi đó, quan hệ giai cấp trong xã hội miền Bắc đã thay đổi. Giai cấp địa chủ phong kiến đã bị đánh đổ. Liên minh giai cấp công nhân và nông dân ngày càng được củng cố và vững mạnh.
Hiến pháp 1946, Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Nhà nước ta đã hoàn thành sứ mệnh của nó, nhưng so với tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới nó cần được bổ sung và thay đổi. Vì vậy, trong kỳ họp lần thứ 6, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá I đã quyết định sửa đổi Hiến pháp 1946 và thành lập Ban dự thảo Hiến pháp sửa đổi.
Sau khi làm xong bản dự thảo đầu tiên, tháng 7 năm 1958 bản dự thảo đã được thảo luận trong các cán bộ trung cấp và cao cấp thuộc các cơ quan quân, dân, chính, Đảng. Sau đợt thảo luận này, bản dự thảo đã được chỉnh lý lại và ngày 1 tháng 4 năm 1959 đem công bố để toàn dân thảo luận và đóng góp ý kiến xây dựng. Cuộc thảo luận này làm trong bốn tháng liền tại khắp các nơi, trong các cơ quan, xí nghiệp, trường học và các tổ chức khác của nhân dân, ở thành thị và nông thôn, việc nghiên cứu và thảo luận dự thảo Hiến pháp tiến hành sôi nổi và đã trở thành một phong trào quần chúng rộng rãi có đủ các tầng lớp nhân dân tham gia. Ngày 18-12-1959, tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá I, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Ngày 31-12-1959, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp sửa đổi và ngày 1-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp.

2. Nội dung cơ bản của Hiến pháp 1959

Hiến pháp 1959 gồm có Lời nói đầu và 112 điều chia làm 10 chương:
Chương I- Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; Chương II- Chế độ kinh tế và xã hội; Chương III- Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Chương IV- Quốc hội; Chương V- Chủ tịch nước; Chương VI- Hội đồng Chính phủ; Chương VII- Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân; Chương VIII- Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân; Chương IX- Quốc kỳ, Quốc huy, Thủ đô; Chương X- Sửa đổi Hiến pháp.
Lời nói đầu khẳng định nước Việt Nam là một nước thống nhất từ Lạng Sơn đến Cà Mau, khẳng định những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam như lao động cần cù, anh dũng đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước. Lời nói đầu ghi nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) trong công cuộc đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho dân tộc và xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, đồng thời xác định bản chất của Nhà nước là Nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Chương I- Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Đây là chương quy định chế độ chính trị của Nhà nước. Chương này gồm 8 điều quy định các vấn đề cơ bản sau đây:
- Hình thức chính thể của Nhà nước là Cộng hoà dân chủ (Điều 2). Hiến pháp xác định tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân (Điều 4).
- Quy định Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước khác thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ (Điều 4).
- Cũng như Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 khẳng định đất nước Việt Nam là một khối thống nhất không thể chia cắt (Điều 1).
- Quy định nguyên tắc bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc trên đất nước Việt Nam. Nghiêm cấm mọi hành vi khinh miệt, áp bức, chia rẽ các dân tộc (Điều 3).
- Quy định các nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín (Điều 5).
- Xác định nguyên tắc tất cả các cơ quan Nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân (Điều 6).
Chương II: Chế độ kinh tế và xã hội
Quy định những vấn đề liên quan đến nền tảng kinh tế - xã hội của Nhà nước, chương này bao gồm 13 điều (từ Điều 9 đến Điều 21) với những quy định chủ yếu sau đây:
- Xác định đường lối kinh tế của Nhà nước ta trong giai đoạn này là biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến. Quy định mục đích cơ bản của chính sách kinh tế của Nhà nước là không ngừng phát triển sức sản xuất nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân (Điều 9).
- Quy định các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội là: sở hữu Nhà nước (tức là của toàn dân), sở hữu của hợp tác xã (tức là hình thức sở hữu tập thể của người lao động), sở hữu của người lao động riêng rẽ và sở hữu của nhà tư sản dân tộc (Điều 11).
- Xác định kinh tế quốc doanh thuộc hình thức sở hữu của toàn dân giữ vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân và được nhà nước bảo đảm phát triển ưu tiên. Các hầm mỏ, sông ngòi, những rừng cây, đất hoang, tài nguyên khác mà pháp luật quy định của Nhà nước đều thuộc sở hữu của toàn dân (Điều 12).
- Quy định việc Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và tư liệu sản xuất khác của nông dân (Điều 14). Bảo hộ quyền tư hữu về tư liệu sản xuất của người làm nghề thủ công và những người lao động riêng lẻ khác (Điều 15), bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của nhà tư sản dân tộc (Điều 16), bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác (Điều 18), bảo hộ người thừa kế tài sản của công dân (Điều 19).
So với Hiến pháp 1946 thì Chương II là một chương hoàn toàn mới. Chương này được xây dựng theo mô hình của Hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa. Vì vậy ngoài việc quy định kinh tế quốc doanh giữ vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân, Hiến pháp còn quy định Nhà nước lãnh đạo hoạt động kinh tế theo một kế hoạch thống nhất. Nhà nước thông qua các cơ quan Nhà nước, tổ chức công đoàn, hợp tác xã và các tổ chức khác của nhân dân lao động để xây dựng và thực hiện kế hoạch kinh tế.
Chương III: Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bao gồm 21 điều (từ Điều 22 đến Điều 42). Theo Hiến pháp công dân Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ cơ bản sau đây:
- Các quyền về chính trị và tự do dân chủ như quyền bầu cử và ứng cử (Điều 23); quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 22); quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình (Điều 25); quyền khiếu nại, tố cáo về những hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên, cơ quan Nhà nước (Điều 29).
- Các quyền về dân sự, kinh tế, văn hoá - xã hội như quyền làm việc (Điều 30) quyền nghỉ ngơi (Điều 31), quyền được giúp đỡ về vật chất như già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động (Điều 32), quyền học tập (Điều 33), quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hoá khác (Điều 34), quyền tự do tín ngưỡng (Điều 26).
- Các quyền về tự do cá nhân như quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 27). Không ai có thể bị bắt nếu không có sự quyết định của toà án nhân dân hoặc sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát nhân dân, quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, quyền bí mật thư tín, quyền tự do cư trú và tự do đi lại.
- Các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân theo quy định của Hiến pháp bao gồm: nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, kỷ luật lao động, trật tự công cộng và những quy tắc sinh hoạt xã hội (Điều 39); nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng (Điều 40); Nghĩa vụ đóng thuế theo quy định của pháp luật (Điều 41); nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc (Điều 42). So với Hiến pháp 1946, chế định quyền và nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp 1959 là một bước phát triển mới.
Bên cạnh việc quy định các quyền của công dân, Hiến pháp còn xác định nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm cho các quyền đó được thực hiện. Ngoài những quyền và nghĩa vụ mà Hiến pháp 1946 đã ghi nhận, Hiến pháp 1959 còn quy định thêm nhiều quyền và nghĩa vụ mới mà trong Hiến pháp 1946 chưa được thể hiện. Ví dụ: Quyền của người lao động được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động, quyền tự do nghiên cứu khoa học và sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hoá khác, quyền khiếu nại tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên, cơ quan Nhà nước, nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng.
Chương IV: Quốc hội, bao gồm 18 điều (từ Điều 43 đến Điều 60) quy định các vấn đề liên quan đến chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. So với nhiệm kỳ của Nghị viện theo Hiến pháp 1946 thì nhiệm kỳ của Quốc hội dài hơn (nhiệm kỳ của Nghị viện là 3 năm, còn nhiệm kỳ Quốc hội là 4 năm). Hiến pháp 1946 chỉ quy định quyền hạn của Nghị viện nhân dân một cách ngắn gọn là giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài, còn Hiến pháp 1959 thì quy định quyền hạn của Quốc hội một cách cụ thể hơn. Theo Điều 50 của Hiến pháp thì Quốc hội có những quyền hạn sau đây: Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm pháp luật; giám sát việc thi hành Hiến pháp; bầu Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước; theo đề nghị của Chủ tịch nước quyết định cử Thủ tướng Chính phủ; theo đề nghị của Thủ tướng quyết định cử Phó Thủ tướng và các thành viên khác của Hội đồng Chính phủ, theo đề nghị của Chủ tịch nước quyết định cử Phó chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng quốc phòng; bầu Chánh án Toà án nhân dân tối cao; bầu Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, bãi miễn Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng, Phó Thủ tướng, và những thành viên khác của Hội đồng Chính phủ, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng Quốc phòng, Chánh án toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định kế hoạch kinh tế Nhà nước, xét duyệt và phê chuẩn dự toán và quyết toán ngân sách của Nhà nước; ấn định các thứ thuế. Ngoài ra Quốc hội còn có những quyền hạn quan trọng khác như Phê chuẩn việc thành lập và bãi bỏ các bộ và các cơ quan ngang Bộ, phê chuẩn việc phân vạch địa giới các tỉnh, khu vực khu tự trị và thành phố trực thuộc Trung ương; quyết định đặc xá, quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình, những quyền hạn cần thiết khác do Quốc hội quyết định.
Quốc hội có cơ quan thường trực của mình là Uỷ ban thường vụ Quốc hội, do Quốc hội bầu ra. Uỷ ban thường vụ quốc hội gồm có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký, các uỷ viên. Quyền hạn của Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng được quy định rõ ràng tại Điều 53 của Hiến pháp. Ngoài những quyền hạn được quy định trong Hiến pháp, Quốc hội có thể trao cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội những quyền hạn khác khi xét thấy cần thiết. Theo quy định của Hiến pháp, chúng ta thấy Uỷ ban thường vụ Quốc hội có các quyền hạn sau đây: Tuyên bố và chủ trì việc tuyển cử đại biểu Quốc hội; triệu tập Quốc hội, giải thích pháp luật, ra pháp lệnh; quyết định việc trưng cầu ý dân, giám sát công tác của Hội đồng Chính phủ, của Toà án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị định, nghị quyết, chỉ thị của Hội đồng Chính phủ trái với Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, sửa đổi và bãi bỏ những nghị quyết không thích hợp của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và giải tán các Hội đồng nhân dân nói trên trong trường hợp các Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân một cách nghiêm trọng. Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc bãi miễn các phó chánh án, thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, bổ nhiệm hoặc bãi miễn các phó viện trưởng, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; bổ nhiệm hoặc bãi miễn các đại diện toàn quyền ngoại giao của nước ta ở nước ngoài; quyết định việc phê chuẩn hoặc bãi bỏ những hiệp ước ký với nước ngoài (trừ trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội xét cần phải trình Quốc hội quyết định). Ngoài ra Uỷ ban thường vụ Quốc hội còn có thẩm quyền quy định hàm và cấp quân sự, ngoại giao, những hàm và cấp khác; quyết định đặc xá, quy định và quyết định việc tặng thưởng huân chương và danh hiệu vinh dự của Nhà nước; Quyết định việc tổng động viên hoặc động viên cục bộ, quyết định việc giới nghiêm trong toàn quốc hoặc từng địa phương. Trong thời gian Quốc hội không họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội có quyền quyết định việc bổ nhiệm hoặc bãi nhiệm các Phó Thủ tướng và những thành viên khác của Hội đồng Chính phủ; có quyền quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh khi đất nước bị xâm lược.
Theo quy định của Hiến pháp 1959, ngoài Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội còn thành lập các uỷ ban chuyên trách như Uỷ ban dự án pháp luật, Uỷ ban kế hoạch và ngân sách, Uỷ ban thẩm tra tư cách đại biểu và các uỷ ban khác mà Quốc hội thấy cần thiết để giúp Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội (Điều 56, 57).
Chương V: Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, bao gồm 10 điều (từ Điều 61 đến Điều 70). So với Hiến pháp 1946 thì đây là một chương mới. Trong Hiến pháp 1946, Chủ tịch nước đứng đầu Chính phủ, nằm trong thành phần của Chính phủ nên được quy định chung trong chương "Chính phủ". Theo Hiến pháp 1959, Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước không nằm trong thành phần của Chính phủ. Đứng đầu Chính phủ lúc này là Thủ tướng Chính phủ, còn Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước thay mặt Nhà nước về mặt đối nội cũng như đối ngoại. Vì vậy, chế định Chủ tịch nước được quy định thành một chương riêng. Theo Hiến pháp 1959, Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra. Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ 35 tuổi trở lên có quyền ứng cử chức vụ Chủ tịch nước. Như vậy khác với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 quy định tuổi tối thiểu để có thể ứng cử chức vụ Chủ tịch nước là 35, còn Hiến pháp 1946 không quy định cụ thể, mặt khác theo Hiến pháp 1946 Chủ tịch nước phải được chọn trong Nghị viện nhân dân tức là trong số các nghị sĩ, còn Hiến pháp 1959 không đòi hỏi ứng cử viên phải là đại biểu Quốc hội.
So với Hiến pháp 1946 quyền hạn của Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1959 hẹp hơn vì theo Hiến pháp 1946 Chủ tịch nước vừa là người đứng đầu Nhà nước vừa là người đứng đầu Chính phủ, tương đương với chức năng của Tổng thống Hoa Kỳ và tổng thống của các nước có hình thức chính thể cộng hoà Tổng thống; còn theo Hiến pháp 1959 chức năng của người đứng đầu Chính phủ đã chuyển sang cho Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên theo Hiến pháp 1959 quyền hạn của Chủ tịch nước vẫn rất lớn. Ví dụ: Chủ tịch nước thống lĩnh các lực lượng vũ trang toàn quốc, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng (Điều 65) Chủ tịch nước khi xét thấy cần thiết thì triệu tập và chủ toạ hội nghị chính trị đặc biệt (Điều 67). Hội nghị chính trị đặc biệt bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Chính phủ và những người hữu quan khác. Hội nghị này xem xét những vấn đề lớn của Nhà nước, ý kiến của Hội nghị chính trị đặc biệt do Chủ tịch nước chuyển đến Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Chính phủ hoặc các cơ quan khác để thảo luận và ra quyết định; Chủ tịch nước khi xét thấy cần thiết có quyền tham dự và chủ toạ các phiên họp của Hội đồng Chính phủ.
Chương VI- Hội đồng Chính phủ, bao gồm 7 điều (từ Điều 71 đến Điều 77) theo quy định tại Điều 71 Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất và là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất. Quy định này thể hiện rõ nguyên tắc quyền lực Nhà nước tập trung thống nhất vào Quốc hội cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân. Quy định này cũng cho ta thấy rằng Hội đồng Chính phủ theo Hiến pháp 1959 được tổ chức hoàn toàn theo mô hình Chính phủ của các nước xã hội chủ nghĩ1 khác với Chính phủ trong Hiến pháp 1946 xây dựng theo mô hình Chính phủ tư sản. Về thành phần của Hội đồng Chính phủ theo quy định tại Điều 72 khác cơ bản so với trước đây là không có Chủ tịch, Phó Chủ tịch nước và không có các thứ trưởng.
Chương VII- Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính địa phương các cấp bao gồm 14 điều (từ Điều 78 đến Điều 91). Trong chương này Hiến pháp xác định các đơn vị hành chính ở nước ta là: tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; huyện, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã; xã, thị trấn. Ngoài ra còn có khu tự trị (Tây Bắc và Việt Bắc). Các khu tự trị này tồn tại đến tháng 12-1975.
Như vậy theo Hiến pháp 1959 cấp bộ (Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ) được bãi bỏ. Khác với Hiến pháp 1946 chỉ có cấp tỉnh và cấp xã mới có Hội đồng nhân dân, Hiến pháp 1959 quy định tất cả các cấp tỉnh, huyện, xã đều có Hội đồng nhân dân. Ngoài ra Hiến pháp còn ghi rõ Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương.
Chương VIII- Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, gồm 15 điều (từ Điều 97 đến Điều 111). So với Hiến pháp 1946 chương này cũng có nhiều thay đổi. Theo Hiến pháp 1946 hệ thống toà án được tổ chức theo cấp xét xử không phụ thuộc hoàn toàn vào các đơn vị hành chính - lãnh thổ. Theo đó hệ thống toà án gồm có toà án tối cao, các toà án phúc thẩm, các toà đệ nhị cấp và sơ cấp. (Có thể nói đây là cách tổ chức toà án theo mô hình của Pháp). Theo Hiến pháp 1959 hệ thống Toà án ở nước ta bao gồm: Toà án nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tỉnh, Toà án nhân dân huyện và các toà án quân sự. Ngoài ra trong trường hợp xét xử những vụ án đặc biệt Quốc hội có thể quyết định thành lập toà án đặc biệt. Theo Hiến pháp 1959 hệ thống toà án nhân dân địa phương được tổ chức theo các đơn vị hành chính- lãnh thổ cấp tỉnh, cấp huyện. Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vừa xét xử phúc thẩm các bản án do toà án huyện xét xử sơ thẩm, vừa xét xử sơ thẩm các bản án thuộc thẩm quyền của chúng. Theo quy định của Hiến pháp 1959, chế độ bổ nhiệm thẩm phán bị bãi bỏ và thực hiện chế độ thẩm phán bầu. Việc xét xử ở các toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của pháp luật. Khi xét xử Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán.
Theo mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước của các nước xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp 1959 đã quy định việc thành lập hệ thống Viện kiểm sát nhân dân để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân thủ pháp luật và thực hiện quyền công tố. Hệ thống Viện kiểm sát bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Viện kiểm sát nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã và các Viện kiểm sát quân sự.
Viện kiểm sát nhân dân tổ chức theo chế độ Thủ trưởng trực thuộc một chiều. Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát cấp trên và tất cả đều đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu ra, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Trong thời gian Quốc hội không họp thì báo cáo công tác và chịu trách nhiệm trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Chương IX- Quy định về Quốc kỳ, Quốc huy và Thủ đô.
Chương X- Quy định về sửa đổi Hiến pháp.
Theo quy định của Hiến pháp chỉ có Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp với điều kiện phải được ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.
Tóm lại, Hiến pháp 1959 là Hiến pháp được xây dựng theo mô hình Hiến pháp xã hội chủ nghĩa. Nó là bản hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên của nước ta.
Hiến pháp 1959 đã ghi nhận những thành quả đấu tranh giữ nước và xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam.
Với Hiến pháp 1959, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam vai trò lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) được ghi nhận bằng đạo luật cơ bản của Nhà nước.
Hiến pháp 1959 là Hiến pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và Cương lĩnh để đấu tranh thống nhất nước nhà.
Hiến pháp 1959 là sự kế thừa và phát triển của Hiến pháp 1946 trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam. Nó là cơ sở, nền tảng để xây dựng toàn bộ hệ thống pháp luật ở miền Bắc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HIẾN PHÁP 1980

 1. Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp 1980

Thắng lợi vĩ đại của Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân 1975 đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc ta. Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn thành trong phạm vi cả nước. Nước nhà đã hoàn toàn độc lập, tự do là điều kiện thuận lợi để thống nhất hai miền Nam, Bắc đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trước tình hình đó, tháng 9-1975, Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã xác định nhiệm vụ quan trọng hàng đầu lúc này là phải hoàn thành việc thống nhất nước nhà. Nghị quyết của Hội nghị đã nhấn mạnh: "Thống nhất đất nước vừa là nguyện vọng tha thiết bậc nhất của đồng bào cả nước, vừa là quy luật khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam. Cách mạng thắng lợi trong cả nước, chế độ thực dân mới do đế quốc Mỹ áp đặt ở miền Nam bị đập tan, nguyên nhân chia cắt đất nước bị hoàn toàn thủ tiêu, thì đương nhiên cả nước ta độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Từ nay, Tổ quốc ta từ Lạng Sơn đến Cà Mau, từ đất liền đến hải đảo vĩnh viễn độc lập, thống nhất trên cơ sở chủ nghĩa xã hội"1 . Hội nghị 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã quyết định triệu tập Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc. Hội nghị Hiệp thương chính trị đã được tiến hành từ ngày 15 đến ngày 21-11-1975 tại Sài Gòn bao gồm đại biểu của hai miền Nam, Bắc với đủ các thành phần đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước. Hội nghị đã nhất trí quyết định tổ chức tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội chung cho cả nước. Quốc hội chung của cả nước sẽ xác định hệ thống chính trị của Nhà nước, thành lập cơ quan Nhà nước Trung ương và xây dựng Hiến pháp mới của Nhà nước Việt Nam thống nhất. Cuộc tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và bỏ phiếu kín đã diễn ra ngày 25-4-1976 với sự tham gia của hơn 23 triệu cử tri, chiếm gần 99% tổng số cử tri. Tỷ lệ này ở miền Bắc là 99,36%, ở miền Nam là 98,59%. Tổng số đại biểu Quốc hội đã bầu là 492 trong đó có 249 đại biểu miền Bắc và 243 đại biểu miền Nam . Tổng số đại biểu Quốc hội được tính theo tỷ lệ 1 đại biểu /100.000 cử tri . Cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả dân tộc đã giành được thắng lợi rực rỡ.
Sau thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử, Quốc hội chung của cả nước đã bắt đầu kỳ họp đầu tiên vào ngày 25-6-1976 và kéo dài đến ngày 3-7-1976. Ngày 2-7-1976 Quốc hội đã thông qua các Nghị quyết quan trọng. Đó là các Nghị quyết về lấy tên nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; về Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca và Thủ đô, về tổ chức và hoạt động của Nhà nước trong khi chưa có Hiến pháp mới. Quốc hội đã quyết định trong khi chưa có Hiến pháp mới, tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta dựa trên cơ sở Hiến pháp 1959 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Quốc hội đã bầu ra các vị lãnh đạo Nhà nước và thành lập ra các cơ quan Nhà nước Trung ương như Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ quốc hội, Hội đồng Chính phủ, Hội đồng quốc phòng, Toà án và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Quốc hội cũng đã quyết định khoá Quốc hội này là khoá VI để thể hiện tính liên tục và nhất quán của Nhà nước t1 . Cũng vào ngày 2-7-1976 Quốc hội khoá VI đã ra Nghị quyết về việc sửa đổi Hiến pháp 1959 và thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp gồm 36 người do đồng chí Trường Chinh - Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội làm Chủ tịch. Sau một năm rưỡi làm việc khẩn trương, uỷ ban đã hoàn thành dự thảo. Bản dự thảo được đưa ra cho cán bộ Trung, cao cấp thảo luận vào tháng 2-1978. Từ tháng 8-1979 bản dự thảo được đưa ra cho toàn dân thảo luận. Tháng 9-1980, Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp kỳ đặc biệt để xem xét và cho ý kiến bổ sung, sửa chữa dự thảo trước khi trình Quốc hội thảo luận, thông qua. Sau một thời gian thảo luận Quốc hội khoá VI, tại kỳ họp thứ 7 ngày 18-12-1980, đã nhất trí thông qua Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980.

2. Nội dung cơ bản của Hiến pháp 1980

Hiến pháp 1980 bao gồm: Lời nói đầu, 147 điều chia làm 12 chương.
Lời nói đầu của Hiến pháp khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta là lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm để dựng nước và giữ nước. Cuộc đấu tranh lâu dài và bền bỉ vì độc lập tự do đã hun đúc nên truyền thống kiên cường bất khuất của dân tộc ta. Tiếp đó, nêu tóm tắt những thắng lợi vĩ đại mà nhân dân Việt Nam đã giành được trong Cách mạng tháng Tám, trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai. Lời nói đầu xác định những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong điều kiện mới mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đề ra và nêu lên những vấn đề cơ bản mà Hiến pháp 1980 đề cập đến.
Chương I: Chế độ chính trị. Chương này có 14 điều (từ Điều 1 đến Điều 14) bao gồm các vấn đề cơ bản sau đây:
- Xác định bản chất giai cấp của Nhà nước ta là Nhà nước chuyên chính vô sản, sứ mệnh lịch sử của Nhà nước là thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, động viên và tổ chức nhân dân tiến hành xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, tiến lên chủ nghĩa cộng sản (Điều 2).
Khác với Hiến pháp 1946, 1959, Hiến pháp 1980 quy định các quyền dân tộc cơ bản bao gồm bốn yếu tố: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Đây là một phạm trù pháp luật quốc tế do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng dựa trên những khái niệm chung về quyền tự nhiên của con ngườ1 . Phạm trù "Quyền dân tộc cơ bản" được thế giới thừa nhận một cách rộng rãi (đặc biệt được các hội nghị quốc tế của Đoàn luật gia dân chủ thế giới thừa nhận). Nó trở thành một trong những phạm trù quan trọng của luật quốc tế hiện đại, một đóng góp lớn của Việt Nam vào sự nghiệp bảo vệ các quyền cơ bản của các dân tộc đã và đang đấu tranh vì nền độc lập, tự do của dân tộc mình.
- Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp 1980 thể chế hoá vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội vào một điều của Hiến pháp (Điều 4). Sự thể chế hoá này thể hiện sự thừa nhận chính thức của Nhà nước về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản. Mặt khác do tính chất bắt buộc của pháp luật, nên việc thể chế hoá vai trò lãnh đạo của Đảng vào Hiến pháp cũng có nghĩa là bắt buộc tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, các đoàn thể quần chúng và mọi công dân phải tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy sự thể chế hoá này làm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, cần phải tránh hiện tượng các tổ chức của Đảng bao biện làm thay chức năng của các cơ quan Nhà nước. Cần phải phân biệt chức năng của các tổ chức của Đảng với chức năng của các cơ quan Nhà nước. Các tổ chức của Đảng phải hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật.
- Ngoài việc thể chế hoá vai trò lãnh đạo của Đảng vào Hiến pháp, Hiến pháp 1980 còn xác định vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội quan trọng khác như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Điều 9), Tổng công đoàn Việt Nam (Điều 10). Đây cũng là lần đầu tiên vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội này được quy định trong Hiến pháp.
- Với Hiến pháp 1980, quan điểm làm chủ tập thể của Đảng ta được thể chế hoá vào Hiến pháp. Tại Điều 3 Hiến pháp quy định: "ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, người chủ tập thể là nhân dân lao động bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể, tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa và những người lao động khác mà nòng cốt là liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Nhà nước bảo đảm không ngừng hoàn chỉnh và củng cố chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, làm chủ trong phạm vi cả nước, từng địa phương, từng cơ sở, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản thân".
- Cũng như quy định của Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 khẳng định chính sách đoàn kết dân tộc của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Điều 5 của Hiến pháp quy định: "Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.
Nhà nước bảo vệ, tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi miệt thị, chia rẽ dân tộc".
- Hiến pháp 1980 kế thừa tư tưởng của Hiến pháp 1959 nhấn mạnh quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Cũng như Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 quy định Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp cũng như các cơ quan Nhà nước khác đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Ngoài nguyên tắc tập trung dân chủ, Hiến pháp còn quy định nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đây là một quy định hoàn toàn mới so với Hiến pháp 1959. Tại Điều 12 Hiến pháp xác định: "Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa".
Tóm lại: Chương này quy định các nguyên tắc cơ bản về tổ chức quyền lực chính trị của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là các nguyên tắc: Đảng Cộng sản lãnh đạo Nhà nước và xã hội, quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, đoàn kết dân tộc, tập trung dân chủ và pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Chương II: Chế độ kinh tế gồm 22 điều (từ Điều 15 đến Điều 36), cũng như Hiến pháp 1959, chương này quy định những vấn đề cơ bản trong lĩnh vực kinh tế: mục đích của chính sách kinh tế, các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các nguyên tắc lãnh đạo nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, Hiến pháp 1980 có nhiều điểm khác với Hiến pháp 1959. Theo Hiến pháp 1959 đất đai có thể thuộc sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, còn Hiến pháp 1980 quy định toàn bộ đất đai đều thuộc sở hữu toàn dân (Điều 19). Theo Hiến pháp 1959 các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất là sở hữu Nhà nước (tức là của toàn dân). Sở hữu tập thể (sở hữu tập thể của nhân dân lao động) sở hữu của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc (Điều 11); còn theo Điều 18 của Hiến pháp 1980 thì Nhà nước tiến hành cách mạng về quan hệ sản xuất, hướng dẫn, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, thiết lập và củng cố chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: Thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Được xây dựng trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp với tư tưởng chủ quan duy ý chí nên nhiều quy định mang tính giáo điều và tỏ ra kém hiệu quả khi điều chỉnh các quan hệ xã hội; ví dụ, quy định về nhà nước giữ độc quyền ngoại thương và mọi quan hệ kinh tế khác với nước ngoài (Điều 21). Quy định về quốc hữu hoá không bồi thường những cơ sở kinh tế của địa chủ phong kiến và tư sản mại bản (Điều 25); quy định về nhà nước tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa ở thành thị và nông thôn (Điều 26).
Chương III: Văn hoá giáo dục, khoa học - kỹ thuật. Chương này có 13 điều (từ Điều 37 đến Điều 49). Đây là một chương hoàn toàn mới so với Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959. Chương này quy định mục tiêu của cách mạng tư tưởng và văn hoá là xây dựng nền văn hoá mới có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, có tính Đảng và tính nhân dân, xây dựng con người mới có ý thức làm chủ tập thể, yêu lao động, quý trọng của công, có văn hoá, có kiến thức khoa học - kỹ thuật, có sức khoẻ, yêu nước xã hội chủ nghĩa và có tinh thần quốc tế vô sản (Điều 37). Theo quy định của Hiến pháp, chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ tư tưởng chỉ đạo sự phát triển của xã hội Việt Nam (Điều 38). Nhà nước ta chủ trương bảo vệ và phát triển những giá trị văn hoá và tinh thần của dân tộc, tiếp thu tinh hoá văn hoa thế giới, chống các tư tưởng phong kiến lạc hậu, tư sản phản động và bài trừ mê tín dị đoan. Ngoài những quy định trên đây, chương III còn xác định chính sách về khoa học - kỹ thuật, văn học, nghệ thuật và các công tác thông tin báo chí, xuất bản, thư viện, phát thanh truyền hình....
Chương IV: Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Chương này có 3 điều (từ Điều 50 đến Điều 52). Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, vấn đề bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa được xây dựng thành một chương riêng trong Hiến pháp. Điều này xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề phòng thủ đất nước. Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa được Đảng ta xác định là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng và Nhà nước. Bảo vệ và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ tồn tại song song trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, có sự gắn bó và tương hỗ lẫn nhau. Tại Điều 50 Hiến pháp xác định đường lối quốc phòng của Nhà nước là xây dựng một nền quốc phòng toàn dân, toàn diện và hiện đại trên cơ sở kết hợp xây dựng Tổ quốc với bảo vệ Tổ quốc, kết hợp sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân với sức mạnh toàn dân, kết hợp sức mạnh truyền thống đoàn kết dân tộc chống ngoại xâm với sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa. Tại Điều 51 Hiến pháp xác định nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang nhân dân là tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ những thành quả của cách mạng, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tự do, hạnh phúc và lao động hoà bình của nhân dân, cùng toàn dân xây dựng nước nhà. Điều 52 trong chương này xác định nhiệm vụ của Nhà nước là thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, chăm lo công nghiệp quốc phòng, huy động nhân lực, vật lực nhằm xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ đất nước. Xác định nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, Hiến pháp quy định: "Tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân phải làm đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do pháp luật quy định".
Qua những quy định trên đây, chúng ta thấy rằng đường lối quốc phòng của nước ta là đường lối quốc phòng toàn dân, toàn diện và hiện đại; kết hợp bảo vệ với xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là đường lối quốc phòng đúng đắn nhất, nó được xây dựng từ kinh nghiệm hàng nghìn năm của ông cha chúng ta trong dựng nước và giữ nước.
Chương V: Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Chương này có 32 điều (từ Điều 53 đến Điều 81). Kế thừa và phát triển Hiến pháp 1946, 1959, Hiến pháp 1980 một mặt ghi nhận lại quyền và nghĩa vụ công dân đã quy định trong hai Hiến pháp trước, mặt khác xác định thêm một số quyền và nghĩa vụ mới phù hợp với giai đoạn mới của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. So với Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 đã xác định thêm một số quyền mới của công dân như quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội (Điều 56) quyền được khám và chữa bệnh không phải trả tiền (Điều 61), quyền có nhà ở (Điều 62), quyền được học tập không phải trả tiền (Điều 60), quyền của các xã viên hợp tác xã được phụ cấp sinh đẻ (Điều 63). Hiến pháp cũng xác định thêm một số nghĩa vụ mới của công dân: Công dân phải trung thành với Tổ quốc (Điều 76); ngoài bổn phận làm nghĩa vụ quân sự, công dân còn phải tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân. Ngoài nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, kỷ luật lao động, tôn trọng những quy tắc sinh hoạt xã hội, công dân còn phải bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, giữ gìn bí mật Nhà nước; ngoài nghĩa vụ đóng thuế, công dân còn phải tham gia lao động công ích. Tuy nhiên, do tư tưởng chủ quan duy ý chí nên một số quyền mới quy định trong Hiến pháp 1980 không phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước nên không có điều kiện vật chất bảo đảm thực hiện. Ví dụ: việc quy định chế độ học không phải trả tiền (Điều 60), chế độ khám chữa bệnh không phải mất tiền (Điều 61). Trong giai đoạn này, Nhà nước ta còn nghèo những quy định trên đây là thiếu cơ sở thực tiễn gây nhiều hậu quả tiêu cực trong xã hội. Cũng tương tự như vậy quyền có nhà ở (Điều 62) quy định trong Hiến pháp không có điều kiện vật chất để đảm bảo thực hiện. Vì vậy, quy định về quyền có nhà ở của công dân chỉ mang tính chất cương lĩnh.
Xem xét một cách khách quan, chúng ta phải thấy rằng có một số quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp 1946 nhưng về sau do hoàn cảnh lịch sử mà chúng ta phải hạn chế, không quy định trong Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980. Ví dụ: Quyền tự do xuất bản, quyền tự do đi ra nước ngoài (Điều 10 Hiến pháp 1946).
Mặc dù có những hạn chế nói trên, song chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp 1980 vẫn là một bước phát triển mới, phong phú hơn, cụ thể hơn, rõ nét hơn.
Chương VI: Quốc hội. Chương này có 16 điều (từ Điều 82 đến Điều 97). Cũng như quy định của Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 xác định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp; Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, những mục tiêu phát triển kinh tế và văn hoá - xã hội, những quy tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước; Quốc hội thành lập các cơ quan Nhà nước tối cao như bầu ra Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng bộ trưởng, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước... (Điều 82, 83). Như vậy về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội về cơ bản không thay đổi. Nhưng về cơ cấu tổ chức của Quốc hội có sự thay đổi lớn. Nếu theo Hiến pháp 1959, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội thì theo Hiến pháp 1980 cơ quan thường trực của Quốc hội là Hội đồng Nhà nước, nhưng Hội đồng Nhà nước theo Hiến pháp 1980 còn là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo Hiến pháp 1959 khi Quốc hội họp thì bầu chủ tịch đoàn để điều khiển cuộc họp (Điều 47). Còn theo Hiến pháp 1980 thì Quốc hội bầu ra Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội. Chủ tịch Quốc hội chủ toạ các phiên họp của Quốc hội, bảo đảm việc thi hành nội quy của Quốc hội, giữ quan hệ với các đại biểu Quốc hội, điều hoà phối hợp hoạt động của các Uỷ ban của Quốc hội, chứng thực những Luật và những Nghị quyết đã được Quốc hội thông qua, thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội.
Như vậy Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội là một thiết chế mới, một cách tổ chức mới của Quốc hội mà trước đó lịch sử lập hiến nước ta chưa có.
Chương VII: Hội đồng Nhà nước. Chương này có 6 điều (từ Điều 98 đến Điều 103). Đây là một chương mới so với Hiến pháp 1959. Hội đồng Nhà nước theo quy định của Điều 98 là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội, là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy Hội đồng Nhà nước vừa thực hiện chức năng của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội vừa thực hiện chức năng của Chủ tịch nước. Vì vậy, thẩm quyền của Hội đồng Nhà nước tương đương với thẩm quyền của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cộng với thẩm quyền của Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1959.
Hội đồng Nhà nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Tuyên bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội, triệu tập các kỳ họp của Quốc hội, công bố luật, ra pháp lệnh, giải thích hiến pháp, luật và pháp lệnh; quyết định việc trưng cầu ý kiến nhân dân; giám sát công tác của Hội đồng Bộ trưởng, của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đình chỉ việc thi hành và sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết, nghị định, quyết định của Hội đồng Bộ trưởng trái với Hiến pháp, luật và pháp lệnh; giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp nhằm phát huy chức năng cơ quan đại biểu nhân dân của Hội đồng nhân dân, sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết không thích đáng của các Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương, giải tán các Hội đồng nói trên trong trường hợp các Hội đồng đó làm thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân. Ngoài những nhiệm vụ và quyền hạn nói trên Hội đồng Nhà nước còn có thẩm quyền quyết định việc thành lập, hoặc bãi bỏ các Bộ, các Uỷ ban Nhà nước trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định cử và bãi miễn các Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, các Bộ trưởng, các Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước trong thời gian Quốc hội không họp. Hội đồng Nhà nước cũng có thẩm quyền cử và bãi miễn các Phó Chánh án, thẩm phán, và hội thẩm nhân dân của Toà án nhân dân tối cao; cử và bãi miễn các Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; bổ nhiệm, bãi miễn và triệu hồi các đại diện toàn quyền ngoại giao của nước ta ở nước ngoài và ở các tổ chức quốc tế; tiếp nhận các đại diện toàn quyền ngoại giao của nước ngoài; quy định hàm cấp quân sự ngoại giao và những hàm cấp khác; quy định và quyết định việc tặng thưởng huân chương, huy chương và các danh hiệu vinh dự Nhà nước và quyết định đặc xá trong thời gian Quốc hội không họp, tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược, quyết định việc tổng động viên cục bộ, việc giới nghiêm trong toàn quốc hoặc từng địa phương. Trong các quyền hạn nói trên thì việc quyết định thành lập hoặc bãi bỏ các Bộ, các Uỷ ban Nhà nước, cử và bãi miễn các Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, các Bộ trưởng, các Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước việc tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược, Hội đồng Nhà nước trình Quốc hội phê chuẩn trong kỳ họp gần nhất của Quốc hội. Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn nói trên Quốc hội có thể giao cho Hội đồng Nhà nước những nhiệm vụ và quyền hạn khác khi xét thấy cần thiết. Qua những quy định trên đây của Hiến pháp 1980 chúng ta thấy quyền hạn của Hội đồng Nhà nước rất lớn. Việc thay thế chế định Chủ tịch nước cá nhân bằng chế định Chủ tịch nước tập thể có những lý do lịch sử của nó. Vào thời điểm xây dựng Hiến pháp 1980 nhiều nước xã hội chủ nghĩa cũng có hình thức Chủ tịch nước tập thể, chỉ khác nhau về tên gọi. Ví dụ, ở Ba Lan, Bungari, Cộng hoà dân chủ Đức, Cuba, Rumani đều có thể chế Chủ tịch nước tập thể là Hội đồng Nhà nước; ở Hunggari là Hội đồng Chủ tịch nước, ở Liên Xô là Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao, ở Anbani là Đoàn Chủ tịch Quốc hội, ở Mông Cổ là Đoàn Chủ tịch Đại Hô Lan (Quốc hội)1 . Thể chế Chủ tịch nước tập thể trong thực tiễn đã thể hiện những ưu điểm và nhược điểm của nó. Ưu điểm của thể chế này là các vấn đề quan trọng của đất nước thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước đều được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số, như vậy thường vững vàng hơn so với một người quyết định. Nhược điểm của nó là do mọi vấn đề phải bàn bạc tập thể nên công việc nhiều khi chậm chạp, trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước chưa thật rõ ràng. Giữa hai kỳ họp của Quốc hội thì quyền hạn của Hội đồng Nhà nước rất lớn nhưng trong kỳ họp Quốc hội thì thẩm quyền của Hội đồng Nhà nước lại hầu như không được thể hiện. Mặt khác việc Hội đồng Nhà nước được quyền quyết định một số quyền hạn thuộc thẩm quyền Quốc hội đã làm nảy sinh vấn đề liên quan đến yêu cầu tập trung quyền lực, nhất là quyền lập pháp vào Quốc hội. Theo quy định của Hiến pháp, chức năng, nhiệm vụ giao cho Hội đồng Nhà nước rất lớn, nhưng cơ cấu của thành viên Hội đồng Nhà nước hầu hết gồm những người kiêm nhiệm.
Chương VIII: Hội đồng Bộ trưởng. Chương này có 9 điều (từ Điều 104 đến Điều 112). Theo quy định tại Điều 104 của Hiến pháp, Hội đồng Bộ trưởng là Chính phủ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có vị trí như Hội đồng Chính phủ trong Hiến pháp 1959. Tuy nhiên Hội đồng Bộ trưởng về tính chất không hoàn toàn giống như Hội đồng Chính phủ. Hội đồng Chính phủ theo quy định của Hiến pháp 1959 là "Cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất và là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà". Như vậy, một mặt Hội đồng Chính phủ là Cơ quan chấp hành của Quốc hội mặt khác là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước ta, đứng đầu hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, đảm nhận một chức năng hoạt động độc lập - hoạt động hành chính Nhà nước. Từ đây có thể thấy rằng theo Hiến pháp 1959 Hội đồng Chính phủ còn có tính độc lập tương đối. Khác với Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 quy định Hội đồng Bộ trưởng "là cơ quan chấp hành và hành chính Nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất". Với quy định này, chúng ta thấy tính độc lập tương đối của Chính phủ đối với Quốc hội không còn nữa. Đúng như nhận xét: "Quy định này phản ánh quan niệm một thời cho rằng: Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thống nhất các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và giám sát, phải thực sự trở thành "tập thể hành động" . Các cơ quan Nhà nước khác do quốc hội lập ra là để phân công, phân nhiệm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội. Hội đồng Bộ trưởng được tổ chức theo tinh thần đó là cơ quan chấp hành - hành chính Nhà nước cao nhất của Quốc hội. Chức năng, nhiệm vụ của nó là thực hiện những hoạt động chấp hành - hành chính được Quốc hội gia.
Cách thức thành lập Hội đồng Bộ trưởng theo Hiến pháp 1980 cũng khác với cách thức thành lập Hội đồng Chính phủ theo Hiến pháp 1959. Theo Hiến pháp 1959, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc thành lập Chính phủ. Theo đề nghị của Chủ tịch nước, Quốc hội quyết định cử Thủ tướng Chính phủ; theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Quốc hội quyết định cử Phó Thủ tướng và các thành viên khác của Hội đồng Chính phủ. Như vậy, quyền lựa chọn Thủ tướng thuộc về Chủ tịch nước, quyền lựa chọn Phó Thủ tướng và các thành viên Chính phủ thuộc về Thủ tướng, Quốc hội chỉ thực hiện quyền phê chuẩn hay không phê chuẩn. Còn theo Hiến pháp 1980, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, các Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và các thành viên đều do Quốc hội bầu ra. ở đây Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng không có quyền lựa chọn các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng.
Về nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng Bộ trưởng, Hiến pháp 1980 quy định các vấn đề cơ bản sau đây:
- Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật; trình dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội và Hội đồng Nhà nước; lập dự án kế hoạch Nhà nước và dự án ngân sách Nhà nước trình Quốc hội; tổ chức thực hiện kế hoạch Nhà nước và ngân sách Nhà nước; thống nhất quản lý việc cải tạo, xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân, việc xây dựng và phát triển văn hoá giáo dục, khoa học - kỹ thuật, xây dựng và kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở; đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ cán bộ Nhà nước; lãnh đạo công tác của các Bộ và các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng; bảo đảm cho Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, lãnh đạo Uỷ ban nhân dân các cấp, đình chỉ việc thi hành và sửa đổi hoặc bãi bỏ những Quyết định, Chỉ thị, Thông tư không thích đáng của các Bộ và các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng; đình chỉ việc thi hành những Nghị quyết không thích đáng của các Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương, đồng thời đề nghị Hội đồng Nhà nước sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết đó; đình chỉ việc thi hành và sửa đổi hoặc bãi bỏ những Quyết định, Chỉ thị không thích đáng của Uỷ ban nhân dân các cấp; quyết định việc phân vạch địa giới của các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh,.... Về cơ bản, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Bộ trưởng theo Hiến pháp 1980 giống với nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Chính phủ theo Hiến pháp 1959. Tuy nhiên, Hiến pháp 1980 bổ sung một số quyền hạn, nhiệm vụ mới phù hợp với yêu cầu của xã hội như tổ chức và lãnh đạo công tác trọng tài Nhà nước về kinh tế, tổ chức và lãnh đạo công tác bảo hiểm Nhà nước, v.v.. So với các Hiến pháp trước thì chế định về Hội đồng Bộ trưởng còn có một điểm mới nữa là quy định về trách nhiệm tập thể của các thành viên Hội đồng Bộ trưởng trước Quốc hội và Hội đồng Nhà nước. Hiến pháp 1946 quy định toàn thể Nội các không phải chịu liên đới trách nhiệm về hành vi một Bộ trưởng, còn Hiến pháp 1959 không có điểm nào quy định về trách nhiệm tập thể của Hội đồng Chính phủ. Như vậy, có thể thấy rằng Hiến pháp 1980 đề cao trách nhiệm tập thể của Chính phủ trong khi đó thì Hiến pháp 1946 lại đề cao trách nhiệm cá nhân của các Bộ trưởng.
Chương IX: Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân. Tại chương này Hiến pháp quy định về phân cấp hành chính ở nước ta, xác định vị trí, tính chất, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.
Về phân cấp đơn vị hành chính, Hiến pháp 1980 quy định nước ta có ba cấp hành chính. Đó là tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương; huyện, quận, thành phố, thuộc tỉnh và thị xã; xã, phường, thị trấn.
Khác với Hiến pháp 1959, khu tự trị được bãi bỏ (do Nghị quyết kỳ họp Quốc hội khoá V này 27-12-1975). Nhưng lập thêm đơn vị hành chính đặc khu - tương đương tỉnh, đơn vị phường ở những thành phố, thị xã- tương đương với xã. ở tất cả các đơn vị hành chính nói trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.
Những quy định của Hiến pháp 1980 về Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được cụ thể hoá bởi Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1983. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1989 đưa thêm vào cơ cấu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, huyện, quận thị xã một cơ quan mới là Thường trực Hội đồng nhân dân. Nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp cũng được nâng lên từ 3 năm lên 5 năm.
Về tính chất Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Hiến pháp 1980 cũng giống như Hiến pháp 1959 quy định Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và chính quyền cấp trên (Điều 114). Còn Uỷ ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân về cơ bản giống Hiến pháp 1959.
Chương X: Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. Chương này bao gồm 15 điều (từ Điều 127 đến Điều 141). Cũng giống như Hiến pháp 1959, chương này quy định về nhiệm vụ chung của Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, về hệ thống các cơ quan toà án, chức năng của các cơ quan toà án, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của toà án. Có thể khẳng định rằng các quy định của Hiến pháp 1980 trong chương này hoàn toàn giống với Hiến pháp 1959.
Chương XI: của Hiến pháp quy định về Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô. Chương này không có gì thay đổi so với Hiến pháp 1959.
Chương XII: Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp. Chương này có 2 điều (Điều 146 và 147) Điều 146 của Hiến pháp quy định Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Về thủ tục sửa đổi Hiến pháp hoàn toàn giống Hiến pháp 1959.
Hiến pháp 1980 đã đánh cột mốc quan trọng trong lịch sử nước ta. Nó là bản tổng kết những thành tựu của nhân dân Việt Nam đã giành được qua nửa thế kỷ đấu tranh giành độc lập, tự do, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là bản Hiến pháp của nước Việt Nam đã hoàn toàn thống nhất, sau hơn hai mươi năm bị chia cắt với những chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Đó là bản Hiến pháp thể hiện ý chí của nhân dân hai miền Nam - Bắc đoàn kết một lòng cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội.

HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HIẾN PHÁP 1992

1. Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp 1992

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên bước đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng cuộc sống hoà bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân đã trải qua nhiều thử thách, gian nan. Trong hoàn cảnh đó lịch sử lập hiến Việt Nam cũng có những bước thăng trầm nhất định. Đánh giá thật khách quan, chính xác, đúng đắn hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước và quốc tế đã ảnh hưởng đến lịch sử lập hiến Việt Nam là một việc làm cần thiết. Vì nếu không hiểu quá khứ thì không thể hiểu được hiện tại và không thể định hướng được tương lai.
Hiến pháp 1980 ra đời trong hoàn cảnh đất nước đang chan hoà khí thế lạc quan của cuộc đại thắng mùa Xuân 1975; tưtưởng chủ quan, duy ý chí, nóng vội đã xuất hiện; không kịp thời khắc phục cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trong thời chiến. Hiến pháp 1980 đã không tránh khỏi những nhược điểm nhất định.
Đại hội lần thứ V của Đảng đã nêu ra và vạch rõ phương hướng khắc phục những sai lầm và nhược điểm đó. Đường lối kinh tế coi công nghiệp hoá là trung tâm của thời kỳ quá độ (Điều 16) về cơ bản là đúng. Nhưng do tưtưởng nóng vội, xuất phát từ tưtưởng muốn đi nhanh, không tính đến khả năng thực tế, nên chủ trương "Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng"; bởi vậy, trong thực tế, chúng ta thiên về xây dựng những công trình công nghiệp nặng và với quy mô lớn. Không coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Không tập trung sức giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Nhiều quy định vượt quá điều kiện kinh tế xã hội cho phép như"Học không phải trả học phí" (Điều 60) "Khám bệnh không phải mất tiền" (Điều 61).
Do chịu ảnh hưởng của Hiến pháp Liên Xô 1977 và quan niệm giáo điều về nền tảng kinh tế của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là chế độ công hữu về tưliệu sản xuất nên Hiến pháp 1980 quy định về cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, thiết lập và củng cố chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tưliệu sản xuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: Thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động (Điều 18). Một số quy định của Hiến pháp đã cản trở sự phát triển của các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước như"Nhà nước giữ độc quyền về ngoại thương và mọi quan hệ kinh tế khác với nước ngoài" (Điều 21), "Những cơ sở kinh tế của địa chủ phong kiến và tưsản mại bản đều bị quốc hữu hoá không bồi thường" (Điều 25).
Trong thực tế, quan niệm coi việc giải quyết xong vấn đề sở hữu thì coi nhưcăn bản hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa là một sai lầm, phải trả giá. Bởi vậy, Đại hội VI và các đại hội sau này đều coi cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ lâu dài suốt cả thời kỳ quá độ, phải trải qua những bước đi, những hình thức trung gian thích hợp. Một thực tế nữa là: Khi chủ trương làm cho kinh tế xã hội chủ nghĩa chiếm ưu thế, không có nghĩa là phải nhanh chóng xoá bỏ tất cả thành phần kinh tế khác. Trong khi chúng ta tích cực xây dựng các thành phần kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, làm cho chúng đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, thì các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhưkinh tế tiểu sản xuất hàng hoá, kinh tế tưbản tưnhân vẫn tồn tại có mức độ và có sự quản lý Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là một tồn tại khách quan. Về tổ chức bộ máy Nhà nước, sau một thời gian kiểm nghiệm bằng thực tế nhiều thiết chế Nhà nước tỏ ra kém hiệu quả, chế độ thẩm phán bầu không đảm bảo được tính ổn định và phẩm chất nghề nghiệp của thẩm phán. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước chưa được phân định rõ ràng. Vai trò của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng - người đứng đầu Chính phủ, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất chưa được nổi bật vì có rất ít thẩm quyền. Chế định Chủ tịch tập thể làm cho các quyết định của cơ quan này chậm chạp, không nhanh nhạy với những thay đổi của đời sống xã hội và khó khăn trong việc ngoại giao.
Tóm lại, sau một thời gian có hiệu lực, nhiều quy định của Hiến pháp 1980 tỏ ra không phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước. Tình hình thực tiễn của đất nước đòi hỏi phải có một bản Hiến pháp mới, phù hợp hơn để thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã mở ra một thời kỳ đổi mới ở đất nước ta. Đảng đã chủ trương nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện những thiếu sót sai lầm của Đảng, của Nhà nước, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy tưduy độc lập, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân lao động trên cơ sở đó để có những nhận thức mới đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và vạch ra những chủ trương, chính sách mới nhằm xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh.
Với đường lối đổi mới của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, chúng ta đã đạt được những thành tựu nhất định, khắc phục được một bước rất quan trọng tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Trong lĩnh vực kinh tế , Đảng và Nhà nước chủ trương xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính sách này nhằm khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước, khơi dậy năng lực trí tuệ, sáng tạo trong các tầng lớp nhân dân lao động, khắc phục cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Thực chất của bước chuyển đổi kinh tế là cuộc cải cách cấu trúc lại nền kinh tế, bắt đầu từ sở hữu:
a) Mở đầu quá trình cấu trúc lại kinh tế là những chính sách quan trọng, đột phá về nông nghiệp. Tháng 4-1988, Bộ Chính trị (Khoá VI) ra Nghị quyết 10. Theo Nghị quyết này xã viên hợp tác xã chỉ còn nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng. Sản phẩm còn lại được tự do lưu thông, được bán lúc nào, nơi nào có lợi nhất. (Trước đây Nhà nước thu mua theo giá quy định). Nhờ chính sách này mà thu nhập bình quân của nông dân tăng lên đáng kể. Tốc độ thu nhập bình quân của nông dân từ năm 1987 trở về trước là 1,18%, nhưng chỉ hai năm 1988-1989 tốc độ này đã tăng lên 4,5%. Chỉ sau một năm khi Nghị quyết 10 của Đảng được thực hiện sản lượng lương thực đã tăng từ 19,583 triệu tấn (năm 1988) lên 21,439 triệu tấn (năm 1989). Từ năm 1988 đến năm 1990, diện tích gieo trồng tăng 3,9%1 . Trong nông thôn, số hộ nghèo đói năm 1990 là 34,4%, đến năm 1992, đã giảm xuống 19,6%2 .
b) Bên cạnh đổi mới chính sách nông nghiệp, Đảng ta chủ trương đổi mới chính sách kinh tế đối với doanh nghiệp Nhà nước. Đó là chính sách chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, xác lập quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước: Từ năm 1987, các xí nghiệp quốc doanh chuyển sang hạch toán kinh doanh. Ngày 14-11-1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 217-HĐBT về đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Ngày 2-12-1989, Hội đồng Bộ trưởng lại ban hành quyết định về những quy định bổ sung Quyết định 217-HĐBT chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Những quyết định này đã chấm dứt tình trạng người lao động thờ ơ với tưliệu sản xuất, thờ ơ với nhu cầu thị trường và sự tiêu thụ sản phẩm.
c) Chính sách quan trọng thứ ba trong việc đổi mới nền kinh tế của đất nước là xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Trước cải cách năm 1988, doanh nghiệp ngoài quốc doanh không được chấp nhận. (Trừ các doanh nghiệp hợp doanh với Nhà nước). Từ năm 1988, các công ty tưnhân bắt đầu hình thành. Các công ty tưnhân có nhiều hình thức: Công ty do một tưnhân làm chủ gọi là doanh nghiệp tưnhân, một số tưnhân làm chủ gọi là công ty trách nhiệm hữu hạn; hoặc bằng cổ phiếu gọi là công ty cổ phần; hoặc công ty theo hình thức hợp tác xã. Năm 1990 đã có 340 công ty tưnhân được thành lập; năm 1991 có 163 và năm 1992 có 1.868 công ty tưnhân được thành lập.
d) Chính sách quan trọng thứ tưtrong việc đổi mới nền kinh tế của đất nước là chính sách kinh tế mở cửa với nước ngoài.
Trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế ở nước ta là nền kinh tế khép kín. Vấn đề xuất khẩu không được Nhà nước quan tâm, không có đầu tưnước ngoài, không hoà nhập được với kinh tế thế giới. Với chính sách kinh tế mở cửa năm 1991, kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 2,08 tỷ USD . Thực hiện chính sách thu hút đầu tưnước ngoài vào Việt Nam. Ngày 29-12-1987, Quốc hội đã thông qua "Luật đầu tưnước ngoài tại Việt Nam". Tiếp đó, ngày 30-6-1990, lại thông qua, "Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật đầu tưnước ngoài tại Việt Nam" nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc thu hút đầu tưcủa nước ngoài vào nước ta. Ví dụ, khu vực nội địa trả thuế lợi tức doanh nghiệp là 25% đến 45% trong khi đó doanh nghiệp nước ngoài chỉ trả 10% đến 25%. Hơn nữa khu vực nước ngoài lại được hưởng 1 năm đến 4 năm miễn thuế và sau đó 1 đến 4 năm giảm thuế 50%. Nhờ chính sách này mà sự đầu tưnước ngoài vào Việt Nam ngày một gia tăng.
Nhờ những chính sách cải cách kinh tế nói trên mà tốc độ phát triển kinh tế của nước ta từ năm 1986 đến năm 1990 là 4,9% và tốc độ lạm phát giảm từ 775% - năm 1986 xuống 17,5% - năm 19922 .
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế vẫn còn nhiều mặt yếu, kém và những khó khăn lớn phải khắc phục. Sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đã có nhưng chưa vững chắc. Kinh tế nhiều thành phần đòi hỏi phải có sự xác định về mặt pháp lý vị trí, vai trò và sự bình đẳng của chúng trước pháp luật. Trong quản lý kinh tế còn nhiều sơ hở, pháp luật còn thiếu sự đồng bộ, còn mâu thuẫn chồng chéo và thiếu sự ổn định tương đối. Nạn tham nhũng và buôn lậu vẫn tiếp tục hoành hành.
Trong lĩnh vực cải cách bộ máy Nhà nước, hoàn thiện hệ thống chính trị và thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đại hội Đảng lần thứ VI cũng đã đề ra những định hướng nhất định. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đã chỉ rõ: "Để thiết lập cơ chế quản lý mới cần thực hiện một cuộc cải cách lơn về tổ chức bô máy của các cơ quan Nhà nước" . Về vấn đề này đồng chí Đỗ Mười đã viết: "Cần phải đổi mới căn bản tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy Nhà nước ta cũng nhưcủa toàn bộ hệ thống chính trị xã hội. Đổi mới căn bản không có nghĩa là thay đổi bản chất của Nhà nước ta, mà chính là làm cho nó thể hiện ngày càng đầy đủ bản chất dân chủ, nâng cao năng lực quản lý, điều hành, thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng xã hội mới. Đổi mới căn bản có nghĩa là không những phải xác định lại chức năng, mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy Nhà nước, mà còn phải đổi mới toàn bộ cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động của chúng, đảm bảo cho Nhà nước thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, quản lý kinh tế - xã hội có hiệu quả; hoạt động trên cơ sở pháp luật và thực hiện được quản lý xã hội bằng pháp luật".
- Việc cải cách bộ máy Nhà nước được xác định bằng phương hướng cơ bản: quán triệt yêu cầu dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, tìm tòi những thiết chế mới bảo đảm thực hiện được nguyên tắc "quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân".
Một Nhà nước thực sự dân chủ là Nhà nước thể hiện được quyền lực của nhân dân, bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền tự do dân chủ của nhân dân. ở nước ta, nhân dân thực hiện quyền lực của mình chủ yếu thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Vì vậy, phải nhận thức đúng vị trí, vai trò của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; cần phải thay đổi tổ chức và hoạt động của các cơ quan này bảo đảm cho chúng thực sự là cơ quan đại diện cho quyền lực của nhân dân. Để Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp có đủ năng lực thực hiện vai trò, chức năng của mình, phải xây dựng cơ chế bầu cử thật sự dân chủ, bảo đảm chọn được những đại biểu xứng đáng bầu vào các cơ quan này. Việc giới thiệu người ra ứng cử phải làm từ dưới lên, phổ biến tuyên truyền rộng rãi tiêu chuẩn và yêu cầu đối với người được giới thiệu ra ứng cử, nhưng phải tôn trọng ý kiến của nhân dân, không gò ép .
- Yêu cầu dân chủ trong thiết chế, tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước còn đòi hỏi phải xây dựng đúng đắn mối quan hệ giữa các hệ thống cơ quan Nhà nước lập pháp, hành pháp, tưpháp và mối quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước trung ương với chính quyền địa phương, nhằm đảm bảo sự tập trung thống nhất quyền lực Nhà nước, đồng thời bảo đảm cho các hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập trong việc thực hiện chức năng của mình, bảo đảm cho chính quyền địa phương, cơ sở chủ động, sáng tạo và toàn quyền quản lý trên lãnh thổ. Khác với các Nhà nước tưsản, nơi mà bộ máy Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân chia quyền lực, các quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp được trao cho ba hệ thống cơ quan khác nhau, độc lập, chế ngự và đối trọng lẫn nhau. Nhà nước xã hội chủ nghĩa được tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất quyền lực: "Trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa mọi cơ quan bắt nguồn từ cơ quan quyền lực, nhận quyền lực từ nó và chịu sự kiểm tra, giám sát của nó. Hơn nữa, cần phải nhận thức rằng, các cơ quan hành pháp và tưpháp thực hiện chức năng của mình đều nhân danh quyền lực Nhà nước bảo đảm cho quyền lực Nhà nước được thực hiện thống nhất trên các lĩnh vực này. Nhưvậy, Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, có quyền lập pháp và kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan hành pháp và tưpháp. Mặt khác, cũng cần nhận thức rằng, để Nhà nước hoạt động có hiệu quả phải có thiết chế tổ chức và cơ chế hoạt động sao cho vừa bảo đảm được sự tập trung thống nhất quyền lực, vừa có sự phân công, phân biệt rõ ràng về mặt chức năng giữa các hệ thống cơ quan Nhà nước; đồng thời phải có cơ sở pháp lý và tổ chức bảo đảm cho mỗi hệ thống cơ quan độc lập và chủ động trong việc thực hiện chức năng của mình, không có sự lấn át giữa cơ quan này với cơ quan khác".
- Yêu cầu dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước đòi hỏi Nhà nước phải thể chế hoá một cách đầy đủ các quyền tự do dân chủ cũng nhưcác nghĩa vụ của công dân vào Hiến pháp và tạo điều kiện để mọi thành viên trong xã hội có thể thực hiện được các quyền và nghĩa vụ đó trên thực tế.
- Cùng với việc đổi mới chế độ kinh tế, cải cách bộ máy Nhà nước, vấn đề hoàn thiện hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa cũng là vấn đề đặc biệt quan trọng. Cần phải phân định chức năng của Đảng và Nhà nước, bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý của Nhà nước. "Thực tiễn cách mạng nước ta chứng minh rằng, sự lãnh đạo đúng đắn của một Đảng vững mạnh, kiên cường là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho mọi thắng lợi của cách mạng. Tuy nhiên trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền, sự phân định chức năng của Đảng và Nhà nước ngày càng trở nên cấp thiết. Sự lẫn lộn chức năng giữa Đảng và Nhà nước dẫn đến tình trạng Đảng vừa bao biện làm thay vừa buông trôi, khoán trắng cho Nhà nước làm cho Nhà nước khó phát huy vai trò của mình". Đảng là lực lượng lãnh đạo chính trị, nhưng vai trò đó trong giai đoạn giành được chính quyền thể hiện khác với giai đoạn chưa giành được chính quyền. Trong quá trình lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền Đảng định ra đường lối chiến lược, sách lược đấu tranh đồng thời Đảng là bộ chỉ huy, bộ tham mưu của cuộc đấu tranh đó. Đảng trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang. Khi đã giành được chính quyền Đảng không thể lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo xã hội với tưcách là trung tâm điều hành trực tiếp nhưtrước. Không thể hiểu một cách giản đơn và siêu hình rằng, "Đảng cầm quyền có nghĩa là Đảng trực tiếp quyết định mọi việc của Nhà nước có thể lấy nghị quyết, chỉ thị của Đảng thay cho pháp luật của Nhà nước, cơ quan Đảng là cấp trên của cơ quan Nhà nước" , v.v..
- Cùng với việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách bộ máy Nhà nước, hoàn thiện hệ thống chính trị; mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã hoạch định một đường lối đối ngoại rộng mở. Đó là thiết lập các quan hệ hoà bình, hợp tác, hữu nghị với tất cả các nước trên thế giới trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi.
Với tinh thần của Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI, Quốc hội khoá VII, tại Kỳ họp thứ 3 ngày 22-12-1988 đã ra nghị quyết sửa đổi lời nói đầu, không chỉ rõ đích danh thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bành trướng Trung Quốc cho phù hợp với quan hệ đối ngoại tốt đẹp đang mở ra giữa ta với nước Cộng hoà Pháp, hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Ngày 30-6-1989, Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá VIII ra Nghị quyết sửa đổi 7 điều: 57, 115, 116, 118, 122, 123, 125, để xác định thêm quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân của công dân và thành lập thêm Thường trực Hội đồng nhân dân trong cơ cấu của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh, thị xã đồng thời củng cố thêm các mặt hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân. Đồng thời trong kỳ họp này Quốc hội đã ra Nghị quyết thành lập Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp để sửa đổi Hiến pháp một cách cơ bản, toàn diện, đáp ứng yêu cầu của tình hình kinh tế - xã hội mới, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp được thành lập bao gồm 28 người do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công làm Chủ tịch. Uỷ ban dự thảo Hiến pháp đã họp nhiều phiên để chỉnh lý, bổ sung và thông qua toàn văn dự thảo Hiến pháp sửa đổi.
Cuối năm 1991 đầu năm 1992, bản dự thảo Hiến pháp lần thứ ba đã được đưa ra trưng cầu ý kiến nhân dân. Trên cơ sở tổng hợp ý kiến đóng góp của nhân dân và ý kiến của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương, dự thảo Hiến pháp lần 4 đã hoàn thành và được trình Quốc hội khoá VIII, tại Kỳ họp thứ 11 xem xét. Sau nhiều ngày thảo luận sôi nổi với những chỉnh lý, bổ sung nhất định, ngày 15-4-1992, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp. Việc soạn thảo và ban hành Hiến pháp 1992 là một quá trình thảo luận dân chủ và chắt lọc một cách nghiêm túc những ý kiến đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân về tất cả các vấn đề từ quan điểm chung đến các vấn đề cụ thể. Bản Hiến pháp này là bản Hiến pháp của Việt Nam trong tiến trình đổi mới. Đúng nhưnhận xét của đồng chí Đỗ Mười Tổng Bí thưBan Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: Hiến pháp 1992 là "sản phẩm trí tuệ của toàn dân, thể hiện ý chí và nguyện vọng của đồng bào cả nước".

2. Nội dung cơ bản của Hiến pháp 1992

Hiến pháp 1992 gồm Lời nói đầu và 147 điều chia làm 12 chương: Chương I- Chế độ chính trị; Chương II- Chế độ kinh tế; Chương III- Văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ; Chương IV- Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Chương V- Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; Chương VI- Quốc hội; Chương VII- Chủ tịch nước; Chương VIII- Chính phủ; Chương IX- Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân; Chương X- Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, Chương XI- Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô ngày Quốc Khánh; Chương XII- Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp. 

Lời nói đầu của Hiến pháp 1992 về cơ bản cũng giống nhưlời nói đầu của các Hiến pháp trước, ghi nhận những thành quả của cách mạng Việt Nam và xác định những nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Trong lời nói đầu cũng xác định những vấn đề cơ bản mà Hiến pháp sẽ quy định.

Chương I- Chế độ chính trị

cũng bao gồm 15 điều (từ Điều 1 đến Điều 14) nhưHiến pháp 1980. Tại chương này Hiến pháp cũng xác định những nguyên tắc cơ bản của tổ chức quyền lực chính trị của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đó là quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp công dân và tầng lớp trí thức (Điều 2). Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam (Điều 4); Nguyên tắc bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc (Điều 5); Nguyên tắc tập trung dân chủ (Điều 6); Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là phổ thông, bình đẳng, trực tiếp là bỏ phiếu kín (Điều 7). Khác với Hiến pháp 1980 Hiến pháp 1992 không dùng thuật ngữ "Nhà nước chuyên chính vô sản" mà dùng thuật ngữ "Nhà nước của dân, do dân, vì dân". Việc thay đổi thuật ngữ này không làm thay đổi bản chất của Nhà nước mà chỉ để làm rõ hơn bản chất "của dân, do dân và vì dân" của Nhà nước ta, phù hợp hơn với chính sách đoàn kết các dân tộc, các tầng lớp trong xã hội và phù hợp hơn với xu thế của quốc tế và thời đại. Bởi vì "Nhà nước của dân, do dân vì dân" đã trở thành một thuật ngữ phổ biến trong Hiến pháp của các Nhà nước có hình thức chính thể cộng hoà dân chủ trên thế giới. 

Đề cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hiến pháp 1992 quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên của nó là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Theo quy định của Hiến pháp 1992, Mặt trận có nhiệm vụ phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đại biểu dân cử và cán bộ viên chức Nhà nước (Điều 9). 

Khác với Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 quy định đường lối đối ngoại mở rộng. Theo quy định của Hiến pháp mới, nước ta thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng. Tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chính sách đối ngoại rộng mở đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để nước ta có thể hoà nhập được vào trào lưu chung của văn minh thế giới và phù hợp với xu hướng Quốc tế hoá rất cao của lực lượng sản xuất thế giới, phù hợp với nền văn minh tin học, nền văn minh công nghiệp của loài người. Chính sách đối ngoại đúng đắn và phù hợp với thời đại của Hiến pháp 1992 đã làm tiền đề cho những thắng lợi to lớn của nước ta trong lĩnh vực hợp tác kinh tế với nước ngoài.

Chương II- Chế độ kinh tế

, bao gồm 15 điều (từ Điều 15 đến Điều 29) có thể nói rằng đây là chương được thay đổi một cách cơ bản nhất, thể hiện rõ nhất quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. 

Theo quy định tại Điều 15 đường lối phát triển kinh tế của nhà nước ta là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế. Kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tưbản tưnhân và kinh tế tưbản Nhà nước dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học - kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới (Điều 16). 

Nhưvậy với Hiến pháp 1992, chúng ta đã chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung với hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể sang nền kinh tế hàng hoá - thị trường, với nhiều thành phần kinh tế: Nhà nước, tập thể, cá thể, tưbản tưnhân và tưbản nhà nước. 

Lần đầu tiên trong lịch sử lập Hiến Việt Nam, Hiến pháp quy định: "Kinh tế cá thể, kinh tế tưbản tưnhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh" (Điều 21); Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật (Điều 22). Nhưvậy, Hiến pháp đã xác định sự bình đẳng của các thành phần kinh tế trước pháp luật. 

Nếu Hiến pháp 1980 quy định việc quốc hữu hoá không bồi thường những cơ sở kinh tế của địa chủ phong kiến và tưsản mại bản thì trái lại Hiến pháp 1992 quy định việc Nhà nước bảo hộ vốn và tài sản hợp pháp của các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế (Điều 22). Hơn nữa, Nhà nước còn khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tưvốn, công nghệ vào Việt Nam và đảm bảo quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài cũng nhưtài sản hợp pháp của các cá nhân, tổ chức khác không bị quốc hữu hoá (Điều 23, 25). Về vấn đề sở hữu đất đai, cũng nhưtrước đây Hiến pháp 1992 quy định đất đai thuộc quyền sở hữu Nhà nước. Tuy nhiên, Hiến pháp mới quy định thêm về quyền sử dụng đất lâu dài đối với người được giao và được chuyển quyền sử dụng đó theo định của Pháp luật (Điều 18).

Chương III- Văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ,

bao gồm 14 điều (từ Điều 30 đến Điều 43). 

Bên cạnh việc xác định đường lối bảo tồn và phát triển nền văn hoá Việt Nam mang bản sắc dân tộc, hiện đại, nhân văn, kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tưtưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân, Hiến pháp còn xác định "Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu" (Điều 35). Có thể nói rằng Hiến pháp 1992 đánh dấu một cái mốc quan trọng trong chính sách giáo dục và đào tạo của Nhà nước ta, thể hiện đúng tưtưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh "vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người".

Chương IV- Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa,

bao gồm 5 điều (từ Điều 44 đến Điều 48). 

Về cơ bản chương này giống nhưHiến pháp 1980 là xác định đường lối quốc phòng toàn dân. Tuy nhiên, Hiến pháp 1992 còn quy định bổ sung thêm về nhiệm vụ xây dựng công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, dựa vào dân và làm nòng cốt cho phong trào nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (Điều 47).

Chương V- Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân,

bao gồm 34 điều (từ Điều 49 đến Điều 82). So với Hiến pháp 1980 có nhiều điều hơn, nhiều quyền và nghĩa vụ được bổ sung và sửa đổi. Khắc phục thiếu sót của các Hiến pháp trước đây, Hiến pháp 1992 lần đầu tiên quy định "các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng" (Điều 50). ở nước ta, ngoài công dân Việt Nam và công dân nước ngoài đến làm việc, sinh sống ở Việt Nam, còn có người không có quốc tịch. Với quy định trên đây người không có quốc tịch cũng được Nhà nước ta tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ. 

Với Hiến pháp 1992, lần đầu tiên quyền tự do kinh doanh của công dân được xác lập (Điều 57). Đây là một trong những chìa khoá quan trọng để mở cánh cửa tự do trong lĩnh vực hoạt động kinh tế của công dân, xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh. Cùng với quyền tự do kinh doanh, công dân còn có quyền sở hữu "về tưliệu sản xuất, vốn và tài sản trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác" (Điều 58). Những quy định này hơn bao giờ hết tạo điều kiện thuận lợi để công dân Việt Nam xây dựng một cuộc sống cho bản thân mình giàu có, thịnh vượng. Trên cơ sở đó mà đồng thời làm giàu cho Nhà nước và xã hội. Ngoài các quy định nói trên còn có quy định về quyền "được thông tin" là một quyền mới được xác lập trong Hiến pháp 1992. Quyền này được hiểu là quyền được nhận tin và truyền tin theo quy định của pháp luật. 

Ngoài việc thiết lập các quyền mới, Hiến pháp còn sửa đổi một số quy định về quyền của công dân không phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và không thể thực hiện được trong thực tiễn. Nếu Hiến pháp 1980 quy định học không phải trả học phí và khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền thì Hiến pháp 1992 sửa đổi lại "bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí" (Điều 59) và "công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ. Nhà nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí" (Điều 61). 

Hiến pháp 1980 quy định "Công dân có quyền có nhà ở" (Điều 62); Quyền này trên thực tế cũng không thực hiện được nên Hiến pháp 1992 sửa lại "Công dân có quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật (Điều 62). Hiến pháp 1992 còn khôi phục lại một số quyền đã quy định trong Hiến pháp 1946 nhưng về sau do hoàn cảnh chính trị - lịch sử mà chúng ta đã hạn chế. Đó là "Quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật" (Điều 68). Một số quyền trước đây chỉ quy định trong Bộ luật hoặc Luật nay đã đưa vào quy định cả trong Hiến pháp để đề cao hơn nữa tính hiệu lực của pháp luật, nhưĐiều 72, Hiến pháp 1992 quy định: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật".

Chương VI- Quốc hội,

bao gồm 18 điều (từ Điều 83 đến Điều 100). Cũng nhưHiến pháp 1980, chương này xác định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Quốc hội về cơ bản nội dung quyền hạn giống Hiến pháp 1980. Tuy nhiên, có một số bổ sung về quyền hạn của Quốc hội nhưquyết định chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh, Quyết định trưng cầu ý dân (Điều 84). Nhìn chung nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội thể hiện trên bốn lĩnh vực: 

- Lập hiến và lập pháp. 

- Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. 

- Xây dựng củng cố và hoàn thiện bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa. 

- Thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy Nhà nước. 

Về cơ cấu tổ chức của Quốc hội theo Hiến pháp 1992 có một số thay đổi nhất định. Thể chế Hội đồng Nhà nước vừa là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội vừa là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được bãi bỏ, khôi phục lại chế định Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và chế định Chủ tịch nước nhưHiến pháp 1959. Theo Hiến pháp 1992 Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội đồng thời là Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Một số thành viên của các Hội đồng, các Uỷ ban của Quốc hội làm việc theo chế độ chuyên trách (Điều 94, 95). 

Đề cao hơn nữa vai trò của đại biểu Quốc hội, Hiến pháp 1992 quy định rõ: "Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước" (Điều 97). So với Hiến pháp 1980 nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội được quy định cụ thể hơn: "Phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ảnh trung thực ý kiến và nguyện vọng của cử tri với Quốc hội và cơ quan hữu quan, thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội; trả lời những yêu cầu và kiến nghị với cử tri, xem xét, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện các quyền đó" (Điều 97). Về trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho đại biểu Quốc hội thực hiện nhiệm vụ của mình, Hiến pháp 1980 chỉ quy định: "Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ đại biểu (Điều 97). Còn Hiến pháp 1992 quy định một cách cụ thể hơn; "Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm cung cấp tài liệu cần thiết mà đại biểu yêu cầu và tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ đại biểu".

Chương VII- Chủ tịch nước

, bao gồm 8 điều (từ Điều 101 đến Điều 108). Với Hiến pháp 1992 chế định Chủ tịch nước, cá nhân được khôi phục lại thành một chế định riêng biệt nhưHiến pháp 1959. 

So với chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1992 có nhiều điểm khác biệt. Trước hết Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1946 vừa là người đứng đầu Nhà nước vừa là người đứng đầu Chính phủ nên quyền hạn rất lớn. Hiến pháp 1959 quy định Chủ tịch nước chỉ đứng đầu Nhà nước chứ không đứng đầu Chính phủ. Nhưng quyền hạn của Chủ tịch nước vẫn rất lớn: "Khi xét thấy cần thiết, có quyền tham dự và chủ toạ các phiên họp của Hội đồng Chính phủ" (Điều 66), và khi xét thấy cần thiết thì triệu tập và chủ toạ Hội nghị chính trị để xem xét những vấn đề lớn của nước nhà (Điều 67). Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1980 không phải là cá nhân mà là Chủ tịch tập thể. Thể chế Chủ tịch tập thể nhưđã nói ở phần trước, có nhiều nhược điểm nhưkhông nhanh nhạy, không linh hoạt và khó khăn trong việc đối ngoại. Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1992 quyền hạn không rộng nhưHiến pháp 1946 và 1959. Theo quy định của Hiến pháp 1992 Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại, Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội, Chủ tịch nước chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội. Thẩm quyền của Chủ tịch nước có thể chia làm 2 loại. Loại thẩm quyền thứ nhất là thẩm quyền độc lập do Chủ tịch nước tự quyết định. Đó là các thẩm quyền sau đây: 

- Quyết định phong hàm, cấp sĩ quan, cấp cao trong các lực lượng vũ trang nhân dân, cấp ngoại giao và những hàm cấp Nhà nước khác; quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước. 

- Bổ nhiễm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao. 

- Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam, tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài, tiến hành đàm phán, ký kết Điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu Nhà nước khác; Quyết định phê chuẩn hoặc tham gia Điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định. 

- Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, cho thôi quốc tịch Việt Nam. 

- Quyết định đặc xá. 

- Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ các chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh. 

- Đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về các vấn đề bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, về việc tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nhà nước bị xâm lược trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Pháp lệnh hoặc Nghị quyết được thông qua. Nếu Pháp lệnh, Nghị quyết đó vẫn được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định trong kỳ họp gần nhất. 

- Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 103). 

Loại thẩm quyền thứ hai là loại thẩm quyền mang tính thủ tục hành chính và nghi thức. Đó là các thẩm quyền: 

- Công bố Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh. 

- Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ. 

- Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, công bố quyết định đại xá. 

- Căn cứ vào Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương (Điều 103).

Chương VIII- Chính phủ,

bao gồm 19 điều (từ Điều 109 đến Điều 117). 

Cũng nhưHội đồng Chính phủ theo Hiến pháp 1959, Chính phủ theo Hiến pháp 1992 được quy định là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nếu so sánh cả bốn bản Hiến pháp của nước ta, chúng ta thấy quan niệm về tính chất của Chính phủ có những thay đổi nhất định. Hiến pháp 1946 xây dựng Chính phủ theo mô hình chính phủ tưsản nên không quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Nghị viện. Hiến pháp 1980 xây dựng Chính phủ (Hội đồng Bộ trưởng) theo mô hình của Hiến pháp xã hội chủ nghĩa. Nhưng với quan điểm tập quyền "rắn" nghĩa là quyền lực Nhà nước thống nhất tập trung vào Quốc hội. Quốc hội, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thống nhất các quyền lập pháp, hành pháp, tưpháp và giám sát. Các cơ quan Nhà nước khác do Quốc hội lập ra là để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội. Vì vậy, Hiến pháp quy định Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan chấp hành của Quốc hội và là cơ quan hành chính cao nhất của Quốc hội. Quy định này làm cho Chính phủ thiếu tính độc lập tương đối trong lĩnh vực hoạt động hành chính Nhà nước. Khắc phục nhược điểm này, Hiến pháp 1992 quay về với Hiến pháp 1959 xây dựng theo quan điểm tập quyền "mềm" nghĩa là quyền lực Nhà nước vẫn tập trung thống nhất nhưng cần phải có sự phân chia chức năng rành rọt giữa các cơ quan Nhà nước lập pháp, hành pháp và tưpháp. Vì vậy, Hiến pháp 1992 quy định: "Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất và là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Với quy định này Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của Nhà nước chứ không phải của Quốc hội, có thể hoạt động một cách độc lập tương đối trong lĩnh vực hành chính Nhà nước. 

Với Hiến pháp 1992 chúng ta có thể thấy rằng những hạt nhân hợp lý của thuyết phân chia quyền lực của John Locke và Charles Montesquieu đã được chúng ta áp dụng1 . 

Cách thức thành lập Chính phủ theo Hiến pháp 1992 hoàn toàn khác với Hiến pháp 1980. Theo Hiến pháp 1980 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ đều do Quốc hội bầu ra, còn theo Hiến pháp 1992 chỉ có Thủ tướng Chính phủ là do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước, còn các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ Quốc hội chỉ phê chuẩn theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ1 . Nhưvậy, Hiến pháp 1992 đề cao vai trò của Thủ tướng Chính phủ trong việc thành lập Chính phủ. Việc Hiến pháp trao cho Thủ tướng Chính phủ quyền được đề nghị bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ trình Quốc hội phê chuẩn (trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn trong thời gian Quốc hội không họp) đồng thời còn có quyền đề nghị miễn nhiệm, cách chức các thành viên của Chính phủ làm nổi bật vai trò của Thủ tướng trong Chính phủ. Có thể nói rằng đây là phương pháp hữu hiệu để xây dựng một chính quyền hành pháp mạnh mẽ. 

Việc tăng cường vai trò của người đứng đầu Chính phủ còn thể hiện ở việc tăng thêm nhiều quyền hạn cho Thủ tướng Chính phủ mà trước đây các Hiến pháp 1959, 1980 không quy định. Đó là các thẩm quyền sau đây: 

- Đề nghị thành lập hoặc bãi bỏ các Bộ, các cơ quan ngang Bộ. 

- Phê chuẩn việc bầu cử, miễn nhiệm, điều động, cách chức Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 

- Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những Quyết định, Chỉ thị, Thông tưcủa Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trái với Hiến pháp, Pháp luật và các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên. 

- Đình chỉ việc thi hành những Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trái với Hiến pháp, Luật và các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội bãi bỏ (Điều 114).

Chương IX- Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.

Chương này bao gồm 8 điều (từ Điều 118 đến Điều 125). Theo quy định của Hiến pháp 1992 nước ta vẫn chia làm 3 đơn vị hành chính: tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; xã, phường, thị trấn1 (Điều 118). ở tất cả các đơn vị hành chính nói trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân. Tính chất của Hội đồng nhân dân nhưcũ là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương bầu ra, nhưng Hiến pháp mới nhấn mạnh tính đại diện của Hội đồng nhân dân nên đã quy định rõ hơn: "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên (Điều 119). Nhưvậy, có thể thấy rằng tính chất của Hội đồng là tính quyền lực Nhà nước và tính đại diện nhân dân. Hai đặc tính này của Hội đồng nhân dân kết hợp nhuần nhuyễn với nhau làm cho Hội đồng nhân dân thực sự trở thành một cơ quan Nhà nước quan trọng bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân lao động. 

Về cơ cấu tổ chức, Hiến pháp 1992 duy trì các quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1989, về thành lập Thường trực Hội đồng nhân dân ở các Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh. Trong tổ chức Hội đồng nhân dân còn thành lập các Ban. Theo quy định của Hiến pháp 1992, quyền hạn của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân được tăng cường. Một số quyền hạn trước đây thuộc tập thể Uỷ ban nhân dân, nay chuyển cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân: "Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản sai trái của Uỷ ban nhân dân cấp dưới, đình chỉ thi hành Nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp dưới, đồng thời đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ những Nghị quyết đó (Điều 124). Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân do Quốc hội khoá IX (kỳ họp thứ năm) thông qua ngày 21-6-1994 trên tinh thần Hiến pháp 1992 đã tăng cường quyền lực cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân. Theo quy định tại Điều 52 của luật này Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có quyền điều động, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp. 

Đề cao hơn nữa vai trò của các tổ chức xã hội và đoàn thể quần chúng trong quản lý Nhà nước và xã hội. Hiến pháp 1992 quy định Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân địa phương được mời dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân và được mời tham dự Hội nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của địa phương cho mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, phối hợp với mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân động viên nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương (Điều 125).

Chương X - Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân,

bao gồm 15 điều (từ Điều 126 đến Điều 140). 

Theo quy định tại Điều 126 nhiệm vụ của toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân là bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Có thể nói về nhiệm vụ của Toà án và Viện kiểm sát nhân dân không có gì thay đổi. 

Về tổ chức hệ thống cơ quan Toà án, Hiến pháp 1992 quy định "Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong tình hình đặc biệt Quốc hội có thể quyết định thành lập Toà án đặc biệt. Quy định này về tổ chức hệ thống toà án đã được cụ thể hoá bằng Luật tổ chức toà án nhân dân 1992, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật tổ chức toà án nhân dân được Quốc hội thông qua ngày 28-12-1993, Pháp lệnh về tổ chức Toà án quân sự năm 1993, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 28-10-1995. 

Theo quy định của các văn bản pháp luật trên đây ở nước ta có các toà án sau đây: 

Toà án nhân dân tối cao; Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; các toà án quân sự; các toà án khác do luật định. Các toà án quân sự ở nước ta theo Điều 2 Pháp lệnh tổ chức toà án quân sự bao gồm toà án quân sự Trung ương, các toà án quân sự quân khu và tương đương, các toà án quân sự khu vực. 

Trước năm 1992, trong hệ thống toà án nhân dân ở nước ta chỉ có toà hình sự và toà dân sự. Các tranh chấp kinh tế do Trọng tài kinh tế giải quyết. Sau khi ban hành Hiến pháp 1992, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật tổ chức toà án nhân dân ngày 28-12-1992 đã quy định: "Toà án nhân dân tối cao và các toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập thêm toà chuyên trách là toà án kinh tế để giải quyết tranh chấp kinh tế". 

Theo quy định của Bộ luật lao động được Quốc hội thông qua ngày 23-6-1994 và có hiệu lực thi hành ngày 1-1-1995, thì các tranh chấp lao động về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước tập thể và trong quá trình học nghề, nếu qua hoà giải hoặc Hội đồng trọng tài giải quyết mà không thành, các bên có quyền yêu cầu toà án nhân dân giải quyết (Điều 164). 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 166 Bộ luật lao động, một số tranh chấp lao động cá nhân có thể yêu cầu toà án nhân dân cấp huyện giải quyết, không nhất thiết phải qua hoà giải cơ sở. Đó là những tranh chấp sau đây: 

- Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; 

- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại cho người lao động. 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 176 Bộ luật lao động thì việc kết luận cuộc đình công hợp pháp hay không thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân. Những quy định đó của Bộ luật lao động là tiền đề để thành lập thêm Toà lao động trong hệ thống toà án nhân dân. 

Việc giải quyết các khiếu kiện của dân đối với các quyết định hành chính sai trái làm thiệt hại đến quyền lợi của dân cũng là một vấn đề bức xúc mà xã hội đặt ra đối với tổ chức toà án. Trước tình hình đó Quốc hội một lần nữa đã ban hành luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật tổ chức toà án nhân dân. Theo quy định của Luật sửa đổi thì cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân tối cao gồm: Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao, Uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân tối cao, Toà án quân sự Trung ương, Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính và các Toà phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao. 

Cũng theo quy định của luật sửa đổi cơ cấu tổ chức của toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gồm: Uỷ ban thẩm phán, Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính. 

Tóm lại: theo quy định của luật mới trong hệ thống tổ chức toà án cấp Trung ương và cấp tỉnh còn có thêm toà lao động và hành chính để chuyển xét xử các tranh chấp lao động và hành chính, ở cấp huyện có thẩm phán chuyên trách xét xử tranh chấp lao động và khiếu kiện hành chính. 

Sự khác nhau cơ bản giữa tổ chức toà án nhân dân theo Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 1980 là: Hiến pháp 1980 thực hiện chế độ thẩm phán bầu, còn Hiến pháp 1992 thực hiện chế độ thẩm phán bổ nhiệm. Dựa trên tinh thần của Hiến pháp, Luật tổ chức toà án nhân dân 1992 đã quy định chỉ có Chánh án Toà án nhân dân tối cao là do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước, còn tất cả các thẩm phán của toà án nhân dân các cấp kể cả Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Chánh án, Phó Chánh án toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đều do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức (Điều 38). Nhiệm kỳ bổ nhiệm của các Thẩm phán là 5 năm. Còn đối với các Hội thẩm nhân dân thì kết hợp giữa chế độ cử và chế độ bầu. Hội thẩm nhân dân toà án nhân dân tối cao do uỷ ban Thường vụ Quốc hội cử theo sự giới thiệu của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam và do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội miễn nhiệm và bãi nhiệm. Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự Trung ương do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cử theo sự giới thiệu của Tổng cục Chính trị quân đội nhân dân Việt Nam và do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội miễn nhiệm, bãi nhiệm. Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Uỷ ban mặt trận Tổ quốc cùng cấp và do Hội đồng nhân dân cùng cấp miễn nhiệm, bãi nhiệm. Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự quân khu và tương đương do Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị quân đội nhân dân Việt Nam cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, Tổng cục hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị quân đội nhân dân Việt Nam miễn nhiệm, bãi nhiệm. 

Hội thẩm quân dân Toà án quân sự khu vực do Chủ nhiệm chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, Tổng cục hoặc cấp tương đương cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị sưđoàn hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, Tổng cục hoặc cấp tương đương miễn nhiệm, bãi nhiệm (Điều 39). 

Nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân tối cao và Hội thẩm quân nhân là 5 năm, còn nhiệm kỳ Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa phương theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp (Điều 39). 

Về các nguyên tắc xét xử, Hiến pháp 1992 ghi nhận lại những nguyên tắc đã quy định trong Hiến pháp 1980. Đó là các nguyên tắc: Việc xét xử của Toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia. Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán; khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Quyền bào chữa của bị cáo được đảm bảo; quyền của công dân thuộc các dân tộc khác nhau có thể dùng tiếng nói và chữ viết của mình trước toà án (Điều 129, 130, 131, 132, 133). 

Về Viện kiểm sát nhân dân, Hiến pháp 1992 cũng xác định tính chất, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhưtrước đây, nhưng về tổ chức và trách nhiệm cũng có những thay đổi và bổ sung nhất định. Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ban hành năm 1992 cụ thể hoá quy định của Hiến pháp thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Uỷ ban kiểm sát. Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, một số kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng cử và trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn. Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gồm có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, một số kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Viện trưởng cử và trình Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao phê chuẩn. Một số vấn đề quan trọng trước đây do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định nay chuyển cho Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương . 

Ngoài quy định nói trên, Hiến pháp 1992 cũng nhưluật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992 có quy định mới về việc "Viện trưởng các Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành Pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân" (Điều 140). 

Các quy định trên đây về Viện kiểm sát nhân dân cho chúng ta thấy rằng: Hiến pháp 1992 một mặt vẫn đề cao chế độ làm việc theo nguyên tắc thủ trưởng và trực thuộc một chiều để đề cao tính độc lập của Viện kiểm sát, mặt khác phải kết hợp nguyên tắc này với chế độ bàn bạc tập thể khi Viện kiểm sát quyết định những vấn đề quan trọng. Đồng thời Hiến pháp 1992 cũng xác định tính chất giám sát của Quốc hội cũng nhưHội đồng nhân dân các cấp đối với hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.

Chương XI- Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô, ngày quốc khánh,

bao gồm 5 điều (từ Điều 141 đến Điều 145) chương này về cơ bản giữ nguyên các quy định của các Hiến pháp trước đây, chỉ bổ sung thêm vào Hiến pháp năm 1992 việc quy định ngày Quốc khánh của nước ta là 2-9, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Chương XIII- Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp

là chương cuối cùng của Hiến pháp 1992 chỉ có 2 điều (Điều 146, 147). Nội dung của chương này hoàn toàn giống quy định của Hiến pháp 1980.


Tóm lại,

Hiến pháp 1992 đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của lịch sử lập hiến Việt Nam. Đây là bản Hiến pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới toàn diện và sâu sắc về kinh tế, từng bước và vững chắc về chính trị. Đây là bản Hiến pháp kế thừa có chắt lọc những tinh hoa của các Hiến pháp 1946; 1959; 1980; đồng thời là bản Hiến pháp vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Hiến pháp 1992 đánh dấu sự phục hưng và phát triển của nền tảng kinh tế của xã hội Việt Nam vào những năm cuối của thế kỷ XX. Nó là tấm gương phản chiếu những đổi mới trong tưtưởng lập Hiến và lập Pháp của con người Việt Nam, đó là bản Hiến pháp thể hiện sự độc lập và tự chủ trên tiến trình phát triển của nền triết học pháp quyền Việt Nam, một nền triết học pháp quyền thể hiện bản sắc dân tộc, đồng thời thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính dân tộc với tính quốc tế và hiện đại trên cơ sở phát triển những tinh hoa của nền văn hoá pháp lý Việt Nam và sự tiếp thu những tinh hoa văn hoá pháp lý thế giới.


» Xem mục lục
» Xem các sách cùng thể loại
Món ngon gia đình
Món ngon gia đình

Các món ăn ngon, thông tin làm đẹp, chăm sóc bé.
Online Caro Game
Online Caro Game

Đọ sức với các cao thủ caro hàng đầu Việt Nam.