Sách Kinh Doanh Quá trình phát triển kinh tế Việt Nam

Chương 7. Công nghiệp hóa : Hiện trạng và triển vọng

 

TS. Lê Thành Nghiệp
Giáo Sư Khoa Trưởng Phân Khoa Kinh Doanh Quốc Tế
Viện Đại Học Quốc Tế Josai (JIU), Tokyo, Nhật Bản

 

  Trong điều kiện dân số đông và không giàu tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam, xúc tiến các công trình công nghiệp hoá là một chính sách hợp lý xét trên hai phương diện khuếch đại GDP và tạo công ăn việc làm. Công nghiệp hoá đã là một quan tâm lớn của chính phủ trong thời kỳ đất nước còn phân chia Nam Bắc (1954-75) cũng như sau khi thông nhất (1975- hiện tại). So với thời kỳ trước Đổi Mới, cơ cấu ngành sản xuất và sản lượng của nền công nghiệp trong giai đoạn Đổi Mới bôc lộ nhiều biến đổi lớn, phản ảnh chuyển hướng lớn trong chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ. Nội dung của chương này bao gồm bốn điểm chính sau. Trước hết xác định vai trò của bộ môn công nghiệp trên khía cạnh nâng cao GDP và thu hút lao động. Kế đến quan sát dạng thức biến đổi qua thời gian trong cơ cấu ngành của bộ môn công nghiệp, nhất là so sánh tình trạng trước và sau Đổi Mới để xác nhận ảnh hưởng của vận động thị trường hoá trên cơ cấu của nền công nghiệp. Sau đó quan sát dạng thức biến đổI qua thời gian của ba phân loại quốc hửu, tư doanh và xí nghiệp nước ngoài để xác nhận mức độ thị trường hoá trên hình thức kinh doanh. Cuối cùng, đưa ra một vài ý kiến về triển vọng công nghiệp hoá ở Việt Nam xét từ khía cạnh cạnh tranh với các quốc gia khác trong vùng Châu Á và các vấn đề còn tồn tại trong các xí nghiệp quốc hữu.

1.   Vai trò của bộ môn công nghiệp trong toàn bộ kinh tế quốc gia

  Dưới đây xin tóm lược vai trò của bộ môn công nghiệp trong việc nâng cao suất tăng GDP trong giai đoạn sau năm 1986.

  Trong Bảng 7-1 thời gian từ năm 1986 đến năm 2000 được chia ra làm ba thời kỳ trong đó suất tăng trưởng hàng năm của GDP, suất tăng trưởng hàng năm của từng bộ môn và tỷ số của từng bộ môn trong GDP được trình bày song song với tác dụng của từng bộ môn trên suất tăng trưởng GDP (suất tăng GDP mang đến bởi từng bộ môn). Tác dụng của từng bộ môn trên suất tăng của GDP (các mục 4, 7, 10) được tính bằng cách nhơn suất tăng trưởng hàng năm của mỗi bộ môn (các mục 2, 5, 8) với tỷ số của mỗi bộ môn trong GDP (các mục 3, 6, 9)[1]. Thêm vào đó phần trăm của suất tăng trưởng GDP mang đến bởi từng bộ môn trong tổng suất tăng GDP cũng được tính và trình bày trong dấu ngoặc.

So sánh các số liệu trong ba thời kỳ đưa ra một vài nhận xét sau. Trước hết bộ mộn công nghiệp chỉ khuynh hướng gia tốc suất tăng hàng năm. Suất tăng trung bình hàng năm của bộ môn công nghiệp ước lượng gia tăng từ 4,9 % trong các năm 1985-90 đến 12,5 % trong các năm 1990-95, và trong thời kỳ 1995-2000 khi mà các quốc gia vùng Châu Á gặp phải nguy cơ trầm trọng trên mặt tiền tệ vẩn còn duy trì được mức độ 10,6%. Kế đến, trong khi cả ba bộ môn tiếp tục khuếch đại giá trị gia tăng (value added), quan sát được chiều hướng thuyên giảm của tỷ số nông nghiêp và chiều hướng gia tăng của tỷ số công nghiệp trong tổng GDP. Tỷ số của giá trị gia tăng nông nghiệp trong tổng GDP giảm từ 42% trong các năm 1985-90 đến 26% trong các năm 1995-2000 và ngược lại trong giữa hai thời kỳ này tỷ số công nghiệp trong GDP gia tăng từ 22% đến 33%. Bộ môn dich vụ cũng chỉ khuynh hướng gia tăng tỷ số trong GDP nhưng với tốc độ tương đối chậm (từ 36% đến 41%). Cuối cùng, phản ảnh hai điểm trên, bộ môn công nghiệp bộc lộ một tác dung mạnh trên khía cạnh nâng cao suất tăng trưởng GDP và tác dụng này có khuynh hướng gia tăng.

  Hình 7-1 trình bày biến đổi qua thời gian trong tác dụng của từng bộ môn trên tổng suất tăng GDP. Suất tăng trưởng trung bình hàng năm của GDP trong ba thời kỳ là 4,4%, 8,2% và 7%. Suất tăng trưởng này là kết quả mang đến bởi gia tăng trong ba bộ môn nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Có thể quan sát được tác dụng  lớn và ngày càng gia tăng của bộ môn công năm cuối của thập niên 1990 con số 3,50% này tương đương với 50% của suất tăng hàng năm GDP.

  Như đã trình bày bên trên, bộ môn công nghiệp đã có tác dụng rất mạnh trên phương diện nâng cao suất tăng trưởng GDP dưới thời kỳ Đổi Mới. Trên quá trình mà cả ba bộ môn chính của nền kinh tế khuếch đại, bộ môn công nghiệp bộc lộ suất tăng trưởng cao nhất và từ đó trong khoảng hơn mười năm đã nâng cao tỷ số của công nghiệp trong tổng GDP lên 50% và gia tăng gấp đôi tác dụng của bộ môn này trên suất tăng GDP. Từ đó có thể đưa ra kết luận rằng suất tăng trưởng đáng kể của GDP trong thời kỳ Đổi Mới dựa rất nhiều vào các công trình công nghiệp hoá trong thời kỳ này.

 

2.   Biến đổi trong sản lượng tương đối của các hinh thức kinh doanh

Trong thời kỳ trước Đổi MớI các hình thức kinh doanh theo đường hướng xã hội chủ nghĩa như xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã chiếm phần chủ yếu trong sản xuất công nghiệp và các hình thức kinh doanh trên căn bản cá nhân hay gia đình chỉ giới hạn trong phạm vi rất nhỏ. Sau khi chính sách Đổi Mới được ban hành các hình thức kinh doanh khác hướng với xã hội chủ nghĩa như xí nghiệp cá nhân, xí nghiệp tư doanh và xí nghiệp liên doanh với công ty nước ngoài được thừa nhận và khích lệ. Thêm vào đó ngay các hình thức kinh doanh theo hướng xã hội chủ nghĩa cũng đã trải qua nhiều đợt cải cách như nới rộng quyền độc lập trong các quyết định kinh doanh. Xí nghiệp quốc doanh (state-run enterprise) trở thành xí nghiệp quốc hữu (state-owned enterprise) mang đến thay đổi lớn trong liên hệ giữa xí nghiệp và các bộ trung ương hay chính quyền địa phương cũng như trong chính sách giá cả và bảo trợ nhà nước. Bộ môn hợp tác xã cũng đã trải qua nhiều biến đổI lớn như việc thừa nhận quyền tự do tham gia hay từ bỏ của các thành viên.

  Phản ảnh các sự kiện kể bên trên, tỷ số của các hinh thức kinh doanh trong tổng sản lượng (giá trị gia tăng) công nghiệp bộc lộ nhiều biến đổi lớn. Sau đây là một vài điểm quan trọng khảo sát được trong mười lăm năm dưới chính sách Đổi Mới.

 

1)         Các xí nghiệp quốc hữu tiếp tục khuếch đại giá trị gia tăng nhưng thuyên giảm tỷ số trong tổng giá trị gia tăng của bộ môn công nghiệp.

2)         Hợp tác xã bộc lộ khuynh hướng suy thoái lớn đến mức tỷ lệ của hình thức kinh doanh này trong tổng sản lượng (giá trị gia tăng) công nghiệp trong năm 2000 trở thành một trị số không đáng kể.

3)         Hình thức kinh doanh tư nhân bao gồm xí nghiệp cá nhân và xí nghiệp tư gia tăng nhanh trong các năm đầu nhưng kể từ khoảng năm 1990, mặc dầu sản lượng còn tiếp tục gia tăng tỷ số của hinh thức kinh doanh này trong tổng giá trị gia tăng của bộ môn công nghiệp có mòi thuyên giảm.

4)         Hình thức liên doanh với các công ty ngoại quốc chỉ khuynh hướng gia tăng nhanh trong suốt 15 năm dưới chính sách Đổi Mới. Vào năm 2000 các xí nghiệp kinh doanh dưới hình thức này chiếm 38% trong tổng giá trị gia tăng của toàn bộ môn công nghiệp.

  Bảng 7-2 và Hình 7-2 trình bày biến đổi trên tỷ lệ của các hình thức kinh doanh trong tổng sản lượng công nghiệp trong khoảng thời gian 1986-2000. Xí nghiệp quốc hữu chỉ sản lượng tăng từ 28,2 tỷ trong năm 1986 (giá so sánh năm 1994) đến 36,8 tỷ trong năm 1990 và 82,8 tỷ trong năm 2000. Nhưng tính trên tỷ số trong tổng sản lượng công nghiệp tỷ lệ của hình thức kinh doanh này tăng từ 65% trong năm 1986 đến 68% trong năm 1990 nhưng giảm xuống 50% trong năm 1995, 48% trong năm 1997 và 42% trong năm 2000. Nếu chia xi nghiệp dưới hình thức quốc doanh ra hai phân loại, xí nghiệp đặt dưới sự quản lý các bộ trung ương và xí nghiệp thuộc quản lý địa phương thì quan sát được khuynh hướng gia tăng, tuy rất nhỏ, trong tỷ số của các xí nghiệp thuộc phân loại quản lý trung ương.

  Sản lượng và tỷ suất của hợp tác xã ước lượng vào khoảng 9,8 tỷ đồng và 23% trong năm 1986 và giảm nhanh đến 5,0 tỷ đồng và 9% trong năm 1990 và 0,7 tỷ đồng và dưới 1% trong năm 2000. Sự kiện này được xem như đã phát sinh một cách đương nhiên vì hợp tác xã liệt thế trên cả hai mặt năng suất và vốn đầu tư so với các xí nghiệp tư và xí nghiệp liên doanh với công ty nước ngoài.

  Sản lượng (giá trị gia tăng) của hình thức tư doanh ước lượng ở một con số rất nhỏ, 5,4 tỷ đồng (giá so sánh năm 1994) trong năm 1986. Tỷ suất của phân loại kinh doanh này trong tổng sản lượng công nghiệp năm 1986 cũng ước lượng vào khoảng 12%. Nhưng với chính sách Đổi Mới từ sau năm 1986 kinh doanh trên căn bản cá nhân và xí nghiệp tư xuất hiện, gia tăng nhanh và nâng cao sản lượng. Đến năm 1990 thì phân loại kinh doanh này chiếm đến 23% trong tổng sản lượng công nghiệp. Trong thập niên 1990 xí nghiệp dưới hình thức tư doanh tiếp tục khuếch đại sản lượng nhưng tỷ suất của phân loại này trong tổng sản lượng có mòi thuyên giảm vì chịu ảnh hưởng của gia tăng lớn trong sản lượng của các xí nghiệp liên doanh với nước ngoài.

  Tuy với chính sách Đổi Mới đầu tư từ nước ngoài bắt đầu được khích lệ từ năm 1986 phải đợi đến khoảng năm 1990 thị trường Việt Nam mới tiếp nhận được đầu tư với qui mô đáng kể từ các các xí nghiệp ngoại quốc. Mặc dầu tham gia vào thị trường Việt Nam trễ nhưng vào năm 1995 phân loại kinh doanh này đạt đến 26 tỷ đồng trên sản lượng và 25% trên tỷ suất sản lượng. Vào năm 2000 thì hình thức kinh doanh này đạt đến 71,3 tỷ đồng trên sản lượng và chiếm 36% trong tổng sản lượng công nghiệp trong nước. Cũng quan sát được một hiện tượng là xí nghiệp liên doanh đã gia tăng tỷ suất sản xuất song song với qua trình thuyên giảm tỷ suất của các xí nghiệp quốc hữu. Điều này có thể dễ giải thích vì một số khá lớn xí nghiệp nhà nước đã tham gia các công trình liên doanh này.

  Hình 7-2 cho thấy rõ một hiện tượng cần được nhấn mạnh: xí nghiệp liên doanh, một hình thức kinh doanh điển hình của kinh tế thị trường tăng nhanh tỷ suất sản xuất và ngược lại hợp tác xã, một hình thức kinh doanh trong kinh tế kế hoạch thuyên giảm nhanh và hiện nay không còn là một thành phần đáng kể trên phương diện sản xuất công nghiệp.

  

Quá trình thị trường hoá không hiên rõ trong các số liệu về sản lượng của hai phân loạI ‘quốc hữu’ và ‘tư doanh’. Với chính sách Đổi Mới ai cũng dự tưởng rằng sẽ có gia tăng lớn trong sản lượng của phân loại ‘tư doanh’ và ngược lại sẽ có thuyên giảm rõ trong sản lượng của phân loại ‘quốc hữu’. Nhưng trên thực tế cho đến nay không những ‘tư doanh’ mà cả ‘quốc hữu’ đã tiếp tục gia tăng sản lượng. Sự kiện này có thể được giải thích bởi các đặc điểm của bộ môn công nghiệp sau năm 1986. Trước hết chính phủ Việt Nam đã tiến hành nhiều công trình cải thiện đường lối kinh doanh trong các xí nghiệp nhà nước như việc nới rộng phạm vi tự lập của xí nghiệp. Nhờ vào các công trình cải thiện này hình thức kinh doanh trong các xí nghiệp quốc hữu đã dần dần tiến gần đến dạng thức kinh doanh trong các xí nghiệp tư. Kế đó, phần lớn các xí nghiệp bao gồm trong phân loại ‘tư doanh’ còn nhỏ trên qui mô sản xuất và không thụ hưởng được điều kiện vay vốn tốt so vớí các xí nghiệp công. Tuy nhiên có thể dự đoán được trong tương lai một số xí nghiệp thuộc phân loại ‘quốc hữu’ sẽ phải đi vào tình trạng phá sản hoặc thuyên giảm sản lượng ví hiện tại không ít xí nghiệp nhà nước lâm vào tình trạng thiếu hụt.

 

 

 

 

3.  Biến đổi trên cơ cấu công nghiệp theo ngành

  Phần này đặt trọng tâm vào việc quan sát cơ cấu ngành và biến đổi qua thời gian trong cơ cấu ngành của bộ môn công nghiệp. Vì không có được số liệu đầy đủ để so sánh tình trạng trước và sau Đổi Mới[2] phân tích bên dưới sẽ dựa vào số liệu trong ba năm 1995, 1997 và 2000.

  Bảng 7-3 trình bày sàn lượng (giá trị gia tăng, giá so sánh năm 1994), tỷ suất của sản lượng và suất tăng hàng năm trong sản lượng của các ngành công nghiệp chính. Các số liệu trong bảng này bộc lộ ba đặc điểm sau.

(1)   Thực phẩm chiếm một tỷ suất lớn, chứng tỏ rằng nền công nghiệp Việt Nam còn dựa nặng vào ngành chế biến thực phẩm.

(2)   Ngành chế ráp máy vi tính, ra-điô, máy truyền hình và cơ giới thiết bị tuy có suất gia tăng cao trong hiện tại còn chiếm một tỷ suất rất nhỏ trong tổng sản lượng công nghiệp.

(3)   Phản ảnh tiến hành nhanh trong các công trình đầu tư vào ngành khai thác hầm mõ, sản lượng của ngành khai thác chỉ suất tăng rất lớn.

  Giữa các thành phần trong bộ môn công nghiệp, cơ cấu của ngành chế biến mang một ý nghĩa rất quan trọng và được xem như một chỉ tiêu của mức độ công nghiệp hoá của một quốc gia. Như đã chỉ trích trong phần 1, song song với quá trình phát triển kinh tế sau năm 1986 có thể quan sát được khuynh hướng thuyên giảm trong tỷ suất của nông nghiệp và gia tăng trong tỷ suất ngành chế biến (manurfacturing) trong GDP. Tuy nhiên khi quan sát nội dung của cơ cấu ngành chế biến chúng ta phải nhận rằng trên 1/3 của sản lượng ngành chế biến là thực phẩm. Các sản phẩm không trực tiếp có nguồn nông nghiệp như sản phẩm của các ngành dệt, trang phục, điện tử, hoá chất v.v. còn chiếm tỷ số rất nhỏ, chứng tỏ công nghiệp hoá ở Việt Nam còn nằm trong giai đoạn sơ khai. Tuy vậy khi quan sát tường tận nội dung của các ngành kỷ nghệ nhẹ có thể thấy các ngành công nghiệp truyền thống như chế biến đồ gỗ thuyên giảm tỷ lệ để nhường chỗ cho các ngành công nghiệp cận đại như sản phẩm điên, máy truyền hình, máy vi tính v.v.

Gia tăng nhanh trong sản lượng của các ngành dệt và trang phục là một khuynh hướng chung thường thấy trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá. Trong trường hợp của Việt Nam, sản phẩm ngành trang phục chỉ một suất tăng khá cao nhưng ngành dệt có suất tăng thấp hơn mức trung bình của bộ môn công nghiệp. Sự khác biệt trong hiện trạng của hai ngành này có thể đã phát sinh từ lý do sau: Trong khi một con số khá lớn xí nghiệp ngoại quốc đóng góp nhiều vào các công trình đầu tư mới trong ngành trang phục tạo một thị trường xuất khẩu lớn cho các sản phẩm thời trang chế tạo trong nước, ngành dệt một mặt gặp phải cạnh tranh mạnh của các sản phẩm thâm nhập từ nước ngoài và một mặt còn mang nhiều vấn đề nội bộ như thừa ngườI, thiết bị máy móc củ, v.v. trong phần lớn các xí nghiệp quốc hữu.

  Trong lãnh vực khai thác mặc dầu ngành khai thác than, một kỷ nghệ truyền thống của Việt Nam còn duy trì một suất tăng trưởng khá cao, tầm quan trọng của ngành công nghiệp này đã giảm đi rất nhiều. Ngược lai, các công trình khai thác dầu hoả với sự hợp tác của các xí nghiệp nước ngoài bắt đầu đưa ra hiệu quả làm tăng nhanh tỷ suất của ngành này trong tổng sản lượng công nghiệp.

  Suất tăng trưởng hàng năm của sản lượng các ngành điện, khí và nước cũng chỉ một trị số cao hơn mức trung bình của toàn bộ môn công nghiệp. Sự kiện này có thể được xem như một kết quả đương nhiên của các triển khai trong thị trường trong các năm gần đây. Một mặt có gia tăng nhanh trong nhu cầu điện, khí đốt và nước mang đến bởi gia tăng trên hoạt động sản xuất cũng như trên mức thu nhập trên đầu người. Kế đó, đáp ứng với gia tăng trên lượng cầu này chính phủ đã thực thi nhiều kế hoạch đầu tư qui mô lớn trên các ngành điện, khí đốt và nước.

Có thể quan sát đươc một khác biệt rõ trên hình thức kinh doanh của các ngành công nghiệp. Xí nghiệp liên doanh chiếm một tỷ suất rất lớn trong ngành khai thác. Xí nghiệp nhà nước chiếm gần 100% trong tổng sản lượng điện, khí đốt và nước. Và phân loại tư nhân (ngoài nhà nước) chiếm trên 50% tổng sản lượng trong các ngành trang phục và chế biến gỗ. Bảng 7-4 tóm lược cơ cấu sản xuất theo hình thức kinh doanh của các ngành công nghiệp chính trong năm 2000. Hình 7-2 trình bày cơ cấu sản xuất của các ngành khai thác (mining), chế biến (manufacturing) và trang phục (garments).

Gần 80% của sản phẩm ngành khai thác được sản xuất bởi các xí nghiệp ngoại quốc; xí nghiệp nhà nước và xí nghiệp tư chỉ chiếm 17% và 5%. Điều này phản ảnh các chương trình đầu tư thực hiện trong ngành khai thác trong thập niên 1990 trong đó xí nghiệp ngoại quốc đã đóng góp một phần rất lớn trên cả hai phương diện vốn đầu tư và kỷ thuât. Xì nghiệp nhà nước cũng đã tích cực tham gia các công trình khai thác nhưng hoạt động của phân loại kinh doanh này có khuynh hướng tập trung vào ngành khai thác than.

Nhìn trên toàn diện ngành chế biến chúng ta thấy rõ một thay đổi lớn trong tầm quan trọng của phân loại ‘nhà nước’. Trong khi trước năm 1986 phần lớn sản phẩm của ngành chế biến được sản xuất dưới hình thức quốc doanh vào năm 2000 tỷ lệ của phân loại này giảm xuống đến 50%, và ngược lại hai phân loại ‘tư nhân’ và ‘nước ngoài’ nâng cao suất chiếm hữu trong tổng sản lượng ngành chế biến đến mức đáng kể (xem Bảng 7-4 và Hình 7-2). Xí nghiệp ngoại quốc chỉ tỷ suất sản lượng tương đối cao trong các ngành thực phẩm (21%), dệt (17%), hoá chất (24%), kim loại (29%) và bàn ghế (18%). Xí nghiệp thuộc phân loại ‘tư doanh’ gia tăng tỷ suất trong hầu hết mọi ngành và đặc biệt trong các ngành thực phẩm (32%), trang phục (50%), gỗ và lâm sản (68%) và bàn ghế (73%).

Vai trò của các xí nghiệp nhà nước trong ngành dệt và ngành trang phục cần được lưu ý. Xí nghiệp nhà nước chiếm một tỷ số rất lớn (60%) trong ngành dệt nhưng có một suất chiếm hữu tương đối nhỏ (34%) trong ngành trang phục. Tuy dưới chính sách Đổi Mới một số xí nghiệp nhà nước qui mô lớn trong ngành dệt gặp nhiều khó khăn đưa đến tình trạng giảm sản lượng hoặc đóng cửa, xí nghiệp nhà nước tương đối còn duy trì được năng lực cạnh tranh vì sản phẩm ngành dệt là nguyên liệu chế biến trên đó thay đổi trong sở thích khách hàng có ảnh hưởng tương đối yếu. Ngược lại sản phẩm ngành trang phục chịu ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi trong sở thích khách hàng và do đó xí nghiệp nhà nước khó cạnh tranh được với xí nghiệp tư doanh và xí nghiệp nước ngoài[3].

 

4.   Chênh lệch trong sản xuất công nghiệp giữa các vùng

 

  Hiện trạng sản xuất công nghiệp của Việt Nam cho thấy rõ chênh lệch lớn giữa các vùng. Sau đây là hai điểm trọng yếu quan sát được.

 

  Bảng 7-3. Biến đổi trong sản lượng của các ngành công nghiệp chính (giá so sánh năm 1994)

                   1995            1997              2000        Suất tăng

                  10 ức VN$ %   10 ức VN      10 ức VN    hang năm

Tổng cọng    103375      100      133685    100     198326       100     13.9

Khai thác      13920       13.4       18207   13.6        27335      13.8     14.5

Than            1677          1.6        2198      1.6         2366         1.2     7.1

Dầu, khí       10845        10.5      14282    10.7       22745       11.5     15.0

Chế biến       83261        80.5   1 07220     80.2     158098      79.7     13.8

Thực phẩm    27008       26.1      35083    26.2      43634        22.0     10.0

Thuốc lá         3977         3.8        4355     3.3         5744         2.9       7.5

Sản phẩm dệt  6176          6.0       6901    5.2         10046        5.1      10.3

Trang phục      2950         2.9       4078    3.1           6042        3.0      15.0

Da thuộc         3570         3.5        5281   4.0           8851        4.5       20.0

Gỗ, lâm sản    3324         3.2        3323    2.5          3598         1.8        1.5

Giấy              1947          1.9       2685    2.0           3930        2.0       15.2

Ấn loát          1510         1.5       1640    1.2            2274        1.1        8.5

 Hoá chất       5086         4.9      7272     5.4           11123       5.6       16.8

Cao su, plastic  2272      2.2       3149     2.4            6456        3.3       23.4

Phi kim loại     9200      8.9      11480     8.6          18259        9.2       14.7

Kim loạI         5760      5.6       8101      6.1            5914        3.0        0.5

Máy móc, thiết bị 1345 1.3       1816      1.4            2761        1.4       15.5

TB văn phòng     28     0.0         48        0.0            1295        0.7       215

Thiết bị điện     1088    1.1      1604        1.2            3622       1.8       27.5

Radio, TV        2065    2.0      3624        2.7            4395       2.2       16.3

Dụng cụ y tế     203     0.2       277          0.2             427       0.2       16.0

Xe có động cơ   1460   1.4      1553        1.2            3232       1.6       17.3

DC vận tải khác 1893   1.8     2113        1.6             6416       3.2       27.5

Bàn ghế            1970    1.9    2442         1.8             3931      2.0      14.8

Điện, Khí, Nước  6195  6.0   8258         6.2           12894      6.5      15.8

Tài liệu: Như trong Bảng 7-1.

 

(1)              Sản xuất công nghiệp có khuynh hướng tập trung vào hai địa điểm Hà Nội và Hải Phòng ở MIền Bắc và vùng Đông Nam Bộ ở Miền Nam.

(2)              Xí nghiệp tư doanh và xí nghiệp nước ngoài có khuynh hướng tập trung vào vùng Đông Nam Bộ.

 Bảng 7-5 trình bày cơ cấu của sản xuất công nghiệp phân theo địa phương trong năm 2000. Nhìn trên toàn diện của bộ môn công nghiệp có thể thấy được khuynh hướng tập trung của sản lượng váo vùng Đồng Bằng Sông Hồng, chiếm 20,3% tổng sản lượng trong nước, và vùng Đông Nam Bộ, chiếm 50,2 tổng sản lượng trong nước. Sản lượng trong hai vùng này cọng với sản lượng vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long đưa đến một tỷ số cao hơn 80%, chỉ rằng sản xuất công nghiệp trong các vùng khác còn ở mức độ không đáng kể.

Nhìn vào cơ cấu sản xuất công nghiệp phân theo hình thức kinh doanh trong các vùng chúng ta thấy được rằng tỷ số của sản lượng vùng Đồng Bằng Sông Hồng có trong tổng sản lượng toàn quốc có trị số vào khoảng trên dướI 20% cho cả ba phân loại ‘nhà nước’, ‘ngoài nhà nước’ và ‘nước ngoài’, chứng tỏ rằng vùng Đồng Bằng Sông Hồng, vùng công nghiệp chính của Miền Bắc còn có mức độ thị trường hoá gần với mức trung bình toàn quốc. Khác hẳn với vùng Đồng Bằng Sông Hồng, Vùng Đông Nam Bộ có tỷ số rất cao trên sản lượng bởi xí nghiệp tư (43,7%) và xí nghiệp nước ngoài (69,7%) so với tỷ lệ trên sản lượng bởi xí nghiệp nhà nước (36,9%), chứng tỏ rằng vùng này có mức độ thị trường hoá rất cao so với mức trung bình toàn quốc cũng như so với vùng Đồng Bằng Sông Hồng.

 Có thể nghĩ đến hai lý do giảI thích chênh lệch trên lượng đầu tư từ nước ngoài giữa các vùng. Trước hết, trước thời điểm chuyển giao sang kinh tế thị trường một số xí nghiệp nước ngoài đã có kinh nghiệm đầu tư trong Miền Nam. Kế đến, vào thời điểm chuyển giao sang kinh tế thị trường Miền Nam và nhất là vùng Đông Nam Bộ có năng lực mua (purchasing power) tương đối cao vì mức thu nhập cao và có lớp lao động quen với lối làm việc trong xí nghiệp tư.

Mặc dầu trong hiện tại Miền Bắc có mòi chậm trễ trên mặt thu hút đầu tư từ nước ngoài so với Miền Nam, cơ cấu sản xuất ngành khai thác trong vùng Đồng Bằng Sông Hồng cho thấy rõ khuynh hướng suy thoái của sản lượng bởi xí nghiệp nhà nước và gia tăng trên sản lượng của xí nghiệp nước ngoài[4]. Hiện tượng này cho thấy rằng các kế hoạch phát triển công nghiệp và chỉnh đốn đường xá trong các vùng chung quanh hải cảng Hải Phòng đã có kết quả lớn trên mặt thu hút đầu tư từ nước ngoài.

 

 

 

 

    

 

 

  

5.   Triển vọng

5-1. Chu kỳ sinh trưỡng- suy thoái của các ngành kinh tế

Trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam cho đến đầu thập niên 2000 đã quan sát được chiều hướng thuyên giảm suất chiếm hữu của nông nghiệp và gia tăng suất chiếm hữu của công nghiệp trong GDP. Thêm vào đó cơ cấu của ngành chế biến trong bộ môn công nghiệp cũng cho thấy nhiều biến đổi theo một chiều hướng có hệ thống. Các ngành công nghiệp nặng xúc tiến trước thời kỳ Đổi Mới dần dần thuyên giảm tầm quan trọng và ngược lại các ngành công nghiệp nhẹ phù hợp với giai đoạn phát triển hiện tại của Việt Nam như ngành chế biến thực phẩm và trang phục nâng cao suất chiếm hữu trong GDP. Hiện tượng này cho biết rằng dưới chính sách Đổi Mới các ngành kinh tế có lợi thế so sánh  (comparative advantage) đã phát triển nhanh và ngược lại các hoạt động kinh tế trước đã tồn tại nhờ vào biện pháp bao cấp nhà nước sẽ phải suy thoái.

  Hai yếu tố chính quyết định dạng thức lợi thế so sánh là mức lương lao động và trình độ kỷ thuật. Vì mức lương lao động và trình độ kỷ thuật biến đổi theo thờI gian, song song với quá trình phát triển kinh tế thông thường chúng ta quan sát được các chu kỳ sinh trưởng và suy thoái của các ngành kinh tế. Chẳng hạn trên quá trình phát triển kinh tế của Nhật, ngành dệt duy trì tốc độ phát triển nhanh từ trước Đại Chiến Thứ Hai cho đến khoảng cuối thập niên 1960 và bắt đầu suy thoái vào khoảng năm 1975 vì mức lương lên cao làm mất lợi thế so với Hàn Quốc và các thành viên ASEAN. Ngược lại,

từ khoảng giữa thập niên 1970 Nhật có được lợi thế so sánh mạnh trên ngành chế biến xe hơi nhờ váo tích luỷ kỷ thuật.

  So với Trung Quốc và các thành phần cũ của ASEAN như Thái-Lan và Ma-lai-xi-a, Việt Nam có mức lương lao động thấp và còn yếu kém trên mặt kỷ thuật và thiết bị cơ sở. Từ lý do này một cách đương nhiên công nghiệp hoá ở Việt Nam sẽ dựa vào lợi thế trên phí tổn lao động (lương thấp) để bù đấp yếu điểm trên kỷ thuật và thiết bị cơ sở. Trong giai đoạn hiện tại, các ngành chế biến thực phẩm, dệt và trang phục là những ngành Việt Nam có lợi thế so sánh. Trong tương lai, các ngành chế biến sản phẩm điện, lấp ráp cơ khí sẽ là những ngành Việt Nam có thể tiến xuất vào thị trường trong và ngoài nước và cạnh tranh được với các quốc gia kể bên trên. Việt Nam sẽ càng đi nhanh trên bước đường công nghiệp hoá này nếu có được hai điều kiện sau. Thứ nhất, nâng cao trình độ kỷ thuật và củng cố thiết bị cơ sở trong nước. Thứ hai, nền kinh tế của các quốc gia Châu Á hồi phục nhanh, nâng cao mức lương lao động, nới rộng phạm vi hoạt động Việt Nam có thể tham gia.

  5-2. Ảnh hưởng của Trung Quốc

  Sự xuất hiện đột ngột của Trung Quốc trên thị trường kinh tế thế giới đã mang đến một ảnh hưởng mạnh trong vùng Châu Á và nhất là đối với các quốc gia tiền tiến có mức lương lao động cao như Nhật Bản và Hàn Quốc[5]. Vì Trung Quốc có số nhân khẩu lớn và một cơ cấu kinh tế đa dạng, sự kiện quốc gia này bước vào quỷ đạo của phát triển kinh tế hiển nhiên cũng sẽ phát sinh ra một ảnh hưởng rất lớn cho nền kinh tế Việt Nam. Sau đây là một vài ý kiến về ảnh hưởng của Trung Quốc trên nền kinh tế Việt Nam.

  Điều cần lưu ý là khác với Nhật Bản và Hàn Quốc, Việt Nam có mức lương lao động thấp so với Trung Quốc và vì lý do này điều chỉnh cơ cấu (một số ngành công nghiệp suy thoái vì giá thành cao) không là một vấn đề trầm trọng như trong trường hợp của Nhật Bản và Hàn Quốc. Trên thực tế đã xảy ra hiện tượng một vài sản phẩm như xe đạp và một số dụng cụ điện chế biến trong nước đã không cạnh tranh được với hàng hoá rẽ của Trung Quốc. Nhưng đây là một hiện tượng có giới hạn. Việc kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh hy vọng sẽ mang đến nhiều ảnh hưởng tốt cho nền kinh tế Việt Nam xét trên hai măt thị trường xuất khẩu (export market) và phân công lao động (division of labor).

  Trung Quốc sẽ là một thị trường tiêu thụ rất lớn vì mức thu nhập trung bình của trên 13 ức nhân khẩu tiếp tục gia tăng bảy, tám phần trăm mỗi năm. Việt Nam có một lợi thế rất lớn để tiếp cận với thị trường tiêu thụ này xét trên cả hai mặt điều kiện địa lý và chênh lệch lương bổng. Chênh lệch trên mức lương giữa hai quốc gia sẽ tạo ưu thế so sánh về phía Việt Nam trong các ngành sử dụng nhiều lao động (labor intensive) đưa đến một liên hệ hổ tương tốt trên mặt sản xuất công nghiệp giữa hai quốc gia. Cũng có thể suy đoán được rằng so với Miền Nam, Miền Bắc sẽ thụ hưởng được nhiều lợi thế của ảnh hưởng này vì Miền Bắc nằm ở vị trí gần Trung Quốc và có chênh lệch lớn trên mức lương.

5-3. Về các xí nghiệp nhà nước

  Xí nghiệp quản lý dưới nhiều hình thức khác nhau cùng hoạt động song song là một đặc điểm chung của Trung Quốc và Việt Nam, thường được đối chiếu với tình trạng của các quốc gia Đông Âu trong đó tư doanh hoá (bãi bỏ xí nghiệp quốc doanh, biến đổI xí nghiệp nhà nước thành xí nghiệp tư) đã được thực thi một cách triệt để ngay từ trong giai đoạn đầu của quá trình thị trường hoá. Việt Nam và Trung Quốc vừa kêu gọi sự tham gia của xí nghiệp tư và xí nghiệp nước ngoài vừa tìm cách duy trì các hình thức quản trị xí nghiệp theo hướng xã hội chủ nghĩa (xí nghiệp nhà nước và hợp tác xã).

Trong trường hợp của Việt Nam một số đáng kể xí nghiệp nhà nước đã thuyên giảm hoặc đình chỉ sản xuất vì phải đương đầu với cạnh tranh mạnh của các xí nghiệp tư trong nước và xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài[6]. Tuy vậy, như đã đề cập bên trên, phản ảnh ý quyết duy trì các hình thức kinh doanh theo hướng xã hội chủ nghĩa, xí nghiệp nhà nước hiện còn chiếm giữ một tỷ lệ lớn trong tổng sản lượng toàn bộ môn công nghiệp.

So sánh tình hình kinh tế từ giữa thập niên 1980 đến ngày nay giữa các quốc gia Đông Âu với Việt Nam và Trung Quốc có thể quan sát được một khác biệt rất lớn: trong khi các quốc gia Đông ÂU lâm vào tình trạng hổn loạn, GDP thuyên giảm và không có cải thiện  đáng kể trong suất lạm phát, Việt Nam và Trung Quốc nâng cao và duy trì suất tăng GDP ở mức 7-10% song song với cải thiện rõ rệt trên phương diện vật giá. So với các quốc gia Đông Âu, Việt Nam và Trung Quốc đã tương đối thành công trong các năm vừa qua vì hai lý do sau. Trước hết, trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển giao sang kinh tế thị trường tư nhân không có đủ vốn và kỷ thuật nên hoạt động sản xuất cần dựa vào xí nghiệp nhà nước. Kế đến, duy trì và từ từ cải thiện xí nghiệp nhà nước tránh đươc tình trạng phát sinh số lượng lớn người thất nghiệp như đã thấy trong các quốc gia Đông Âu.

Tuy đã đóng góp nhiều vào việc nâng cao GDP và kềm chế suất lạm phát trong giai đoạn đầu của quá trình thị trường hoá một số xí nghiệp nhà nước hiện đang gặp phải nhiều khó khăn. Nhiều chuyên viên kinh tế dự đoán rằng trong một tương lai gần một số đáng kể xí nghiệp nhà nước sẽ phải đình chỉ hoạt động vì các vấn đề như dư thừa lao động, năng suất thấp, ngạch thu không đủ để bù đấp chi phí, v.v. Hiện tại rất khó dự đoán xí nghiệp nhà nước sẽ được cải thiện và tiếp tục cạnh tranh được vớI xí nghiệp tư nhân trong nước và xí nghiệp có vốn đầu tư từ nước ngoài hay không. Một điều có thể dự đoán, dựa vào kinh nghiệm của các quốc gia tiền tiến là xí nghiệp nhà nước có lý do mạnh để tồn tại trong các hoạt động có tính chất công cộng như điện, khí đốt và nước và các ngành khai thác tài nguyên khan hiếm của quốc gia như dầu mỏ. Ngược lại xí nghiệp nhà nước sẽ dần dần mất lý do tồn tại trong các hoạt động liên quan đến việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ mà xí nghiệp tư có năng suất cao hơn như các ngành dệt, trang phục, chế biến thực phẩm, v.v.

5-4. Thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài

 Từ sau năm 1986 xí nghiệp của các nước ngoài (và đặc khu hành chính) như Hồng Công, Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản đã tiến xuất và gia tăng lượng đầu tư trên thị trường Việt Nam. Đầu tư từ nước ngoài đã đóng góp vào nên kinh tế trong nước qua các tác dụng như hình thành tài sản cố định (capital formation), chuyển giao kỷ thuật (transition of technology) và tạo liên quan hổ tương tốt với các xí nghiệp trong nước. Nhưng trong các năm cuối thập niên 1990 khi số lớn các quốc gia Châu Á gặp phải nguy cơ tiền tệ, vốn đầu tư từ nước ngoài có mòi thuyên giảm, để một bóng đen trên triển vọng của nền công nghiệp Việt Nam. Trong các năm này không những lượng đầu tư mới hàng năm có hướng thuyên giảm mà ngay một số xí nghiệp thiết lập từ trước đã phảI đình chỉ hoặc giới hạn phạm vi hoạt động. Một phần của khuynh hướng thuyên giảm đầu tư nước ngoài có thể phản ảnh ảnh hưởng của nguy cơ tiền tệ làm giảm tài lực thặng dư trong các quốc gia này. Nhưng khuyết điểm trong điều kiện đầu tư của thị trường Việt Nam cũng có thể là một nguyên nhân làm giảm lượng đầu tư từ nước ngoài. Theo ý kiến của giới đầu tư nước ngoài, Việt Nam cần phải tiếp tục cải thiện cơ sở hạ tầng và bãi bỏ một số qui chế không hợp lý trên nhiều phương diện như thu thuế nhân công ngoại quốc, điều kiện tuyển chọn và sử dụng nhân công Việt Nam, v.v

Phụ Lục:  So sánh năng suất giữa xí nghiệp nhà nước và xí nghiệp tư[7]

So vớI xí nghiệp tư xí nghiệp nhà nước thường có năng xuất thấp vì hai lý do: đầu ra và đầu vào không mua bán trên thị trường tự do và hành động phòng thân của ban điều hành xí nghiệp. Thông thường trong các xí nghiệp tư vì mục đích vụ lợI xí nghiệp giảm lượng nhập các yếu tố đầu vào giá lên và ngược lạI gia tăng lượng nhập các yếu tố đầu vào giá xuống. Xí nghiệp nhà nước nằm trong hệ thống kế hoạch trung ương không có đáp ứng thích hợp với biến đổi giá cả trên thị trường vì các xí nghiệp này không mua đầu vào qua thị trường[8]. Vì lý do này, so với xí nghiệp tư có cùng mức kỷ thuật xí nghiệp nhà nước phải cần nhiều tổn phí để sản xuất cùng một lượng sản phẩm[9]. Thêm vào đó, ví độ thành đạt mục tiêu là tiêu chuẩn để chính phủ đánh giá ban điều hành xí nghiệp nhà nước, thay vì gia tăng năng suất ban điều hành xí nghiệp có khuynh hướng đặt mục tiêu thấp và đòi hỏi nhiều lượng đầu vào. Tình trạng dư thừa lao động và thiết bị sản xuất quan sát được trong một số lớn xí nghiệp nhà nước hiện đang hoạt động ở Trung Quốc và Việt Nam là một chứng cớ cho điểm này.

Bên dưới xin tóm lược kết quả của một công trình nghiên cứu dựa trên số liệu thống kê thu thập bởi Trung Tâm Phát Triển Kinh Tế Quốc Tế (International Development Center of Japan, IDCJ) vào năm 1992. Phái đoàn của cơ quan IDCJ thu thập tài liệu trên 38 xí nghiệp Việt Nam (gồm 13 xí nghiệp thời trang, 25 xí nghiệp chế biến kim thuộc và sản phẩm cơ khí). Phân tích trình bày bên dưới dựa trên tài liệu của 22 xí nghiệp tương đối có đầy đủ số liệu thống kê (10 xí nghiệp thời trang vá 12 xí nghiệp sản phẩm cơ khí).

Mặc dầu mục đích chính của công trình nghiên cứu này là so sánh năng suất giữa xí nghiệp nhà nước và xí nghiệp tư nhân, kết luận đưa đến bởi phân tích định lượng trình bày bên dưới phải được xem như có tính cách tạm thời vì giới hạn trên số lượng của tài liệu thống kê.

So sánh năng suất lao động

Hình 7-4 và Hình 7-5 trình bày năng suất (trung binh) của hai yếu tố lao động và tư bản (tài sản cố định) của các xi nghiệp thời trang. Trong cả hai hình, trục đứng chỉ giá trị gia tăng hàng năm (lô-ga-rít). Trục nằm chỉ số người lao động trong Hình 7-4 (lô-ga-rít) và tài sản cố định (trị lô-ga-rít của số máy may) trong Hình 7-5. Một đặc điểm chung nhận xét được trong hai hình này là trong khi các điểm trình bày xí nghiệp tư tản phát trong một phạm vi khá rộng các điểm trình bày xí nghiệp nhà nước tập trung vào gần một điểm, bộc lộ tính chất đồng nhất của xí nghiệp thành lập theo kế hoạch nhà nước. Điểm thứ hai nhận xét được là trong cả hai hình đường cận tuyến của các xí nghiệp tư nằm trên đường cận tuyến của các xí nghiệp nhà nước, chứng tỏ rằng các xí nghiệp tư có giá trị gia tăng đơn vị  (value-added per unit) của cả hai yếu tố lao động và tư bản (tái sản cố định) cao hơn so với các xí nghiệp nhà nước.

 

                 

Ước lượng hàm số sản xuất

Với mục đích kiểm chứng tường tận hơn chênh lệch trên năng suất giữa xí nghiệp tư và xí nghiệp nhà nước, dưới đây xin giới thiệu kết quả của một công trình nghiên cứu dựa trên khái niệm hàm số sản xuất. Giả định rằng sản lượng của một xí nghiệp trong cả hai ngành trang phục và cơ khí là hàm số của lượng lao động, lượng tài sản cố định và một biến số dummy như sau (theo dạng hàm số Cobb-Douglas):

   Y = ec+dDKaLb                                    (1)

hoặc,

  lnY  =  c + dD + alnK  + blnL                    (2)

  Y: giá trị gia tăng của xí nghiệp trong một năm

  K: tài sản cố định của xí nghiệp

  L: số người lao động làm việc trong xí nghiệp

  D: biến số dummy (nhà nước:1, tư nhân: 0)

  a, b, c, d: hệ số.

  Nếu giữa xí nghiệp nhà nước và xí nghiệp tư trong cùng một ngành, trang phục hay cơ khí, có chênh lệch trên năng suất thì sẽ suy ra được một hệ số d có dấu âm ở mức hữu ý cao (xí nghiệp nhà nước có năng suất thấp).

  Bảng 7-6 trình bày kết quả của phân tích hồI qui, áp dụng phương trình (2) bên trên vào số liệu thống kê. Về ngành thiết bị và chế biến kim loại, thêm vào kết quả của phân tích dựa theo phương trình (2), trong Bảng 7-6 cũng trình bày hai hàm số sản xuất với giả định không có kinh tế qui mô (b+c=1). Kết quả liên quan đến ngành trang phục trình bày tất cả hệ số với dấu hợp lý mặc dầu trị số suy ước cho hệ số của biến số tư bản (tài sản cố định) không có mức hữu ý cao[10]. Về ngành thiết bị và chế biến kim loạI, hàm số không đặt điều kiện trên kinh tế qui mô (hàm số (2)) trình bày tất cả hệ số có dấu hợp lý nhưng hệ số của biến số tư bản (tài sản cố định) và biến số dummy không có mức hữu ý cao. Giả thuyết không có kinh tế qui mô có tác dụng khá mạnh trên mức hữu ý này (hàm số (3)).

  Xét một cách tổng quát, công trình suy ước hàm số sản xuất cho hai ngành trang phục và chế biến kim loạI trình bày bên trên không được xem như thành công, vì không suy ước được hệ số tư bản với mức hữu ý cao và cho ra một hệ số co dản qui mô (scale elasticity =b+c) quá lớn (trường hợp ngành trang phục). Tuy vậy công trình nghiên cứu này chỉ rõ rằng có chênh lệch lớn trên năng suất giữa xí nghiệp nhà nước và xí nghiệp tư.

 


 

[1] Nếu trình bày GDP và giá trị gia tăng (value added) của nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ bằng Y,Y,Y,Ythì ΔY/ Y=Δ(YY+ Y/ Y=(ΔY/ Y)(Y/ Y)+(ΔY/ Y)(Y/ Y)+(ΔY / Y)(Y/Y.

2Trong Niên Giám Thống Kê, phân loại ngành trước năm 1995 khác với thời kỳ sau năm 1995.

[3] Xí nghiệp nước ngoài còn có lợi điểm trên mạng lưới marketing trên thị trường quốc tế.

[4] Suất chiếm hữu của xí nghiệp nhà nước trong vùng ĐB Sông Hồng trong năm 2000 nhỏ hơn so với năm 1997.

[5] Trong các năm đầu một số ngành công nghiệp của Nhật đã phải suy thoái vì ảnh hưởng của sản phẩm giá rẻ từ Trung Quốc, nhưng bắt đầu từ thập niên 2000 Trung Quốc trở thành một thi trường lớn, thu hút hang hoá xa xĩ chế biến bởi xí nghiệp Nhật.

[6] Số xí nghiệp nhà nước giảm từ 1843 xí nghiệp trong năm 1997 xuống đến 1633 xí nghiệp trong năm 2000Statistical Yearbook 2001.

[7] Phần phụ lục này dựa nhiều vào một công trình nghiên cứu đã công bố của tác giả, xem Le Thanh Nghiep, “State-Owned and Private Enterprises in Vietnam’s Apparel and Machinery Industries”, Josai International University Bulletin Vol.3, No. 1.

[8] Nakamura KeikakuKeizai no Mikuro-Bunseki (Phân Tích Vi Mô Kinh Tế Kê Hoạch), Nihon Hyoronsha, 1992.

[9] Theo lốI giải thích trong các sách giáo khoa môn Kinh tế Vi mô, tỷ lệ các lượng đầu vào nằm xa tiếp điểm của đường giá (relative price line) và đường đẳng lượng (isoquant curve).

[10] So với số người lao động, số liệu thống kê về tài sản cố định không chính xác.


» Xem mục lục
» Xem các sách cùng thể loại
Món ngon gia đình
Món ngon gia đình

Các món ăn ngon, thông tin làm đẹp, chăm sóc bé.
Online Caro Game
Online Caro Game

Đọ sức với các cao thủ caro hàng đầu Việt Nam.