Sách Khoa Học Khí quyển và Hải dương

Nước biển là gì?

 

TTO - Tất cả các đại dương và biển trên thế giới đều chia sẻ những eo biển cơ bản nào đó. Chắc chắn là tất cả đều có tính mặn.

Muối thường, hay clorua natri, có nhiều nhất, nhưng không phải là duy nhất, người ta có thể tìm thấy muối trong nước biển. Nước biển cũng chứa magnesium, calcium, và muối kali. Hàm lượng muối chung của nước biển là khoảng 3,5%. Trong đó, 85% là NaCl.

Độ mặn, hay tính mặn, của nước biển khá là khác biệt ở nơi này so với nơi khác. Nước biển có độ mặn ít nhất là ở biển Baltic. Hàm lượng muối của nó chỉ bằng 1%. Nước biển mặn nhất là tại những vùng của biển Đỏ, có hàm lượng muối lên đến 27%.

Sự khác biệt về độ mặn phần lớn phụ thuộc vào khí hậu. Lượng mưa nhiều thường làm giảm, hay làm loãng, hàm lượng muối của nước biển. Ánh sáng mạnh của mặt trời và nhiệt độ cao quanh năm làm tăng hàm lượng muối qua sự bay hơi.

Nhiệt độ của các khối nước ở đại dương sâu khắp thế giới ít hay nhiều ổn định: chỉ trên nhiệt độ đóng băng (trừ vùng phụ cận của các miệng thông nhiệt). Nhưng nhiệt độ tại bề mặt có sự khác nhau lớn tùy vùng, độ sâu của đáy biển, và các dòng đại dương thịnh hành.

Có thể là nhiệt độ bề mặt đại dương cao nhất tại các vùng nhiệt đới, nơi nước thường xuyên được hâm nóng bởi ánh sáng mạnh của mặt trời. Nhiệt độ đại dương cao nhất trên thế giới, 360C, xuất hiện tại các khối nước cạn của vịnh Persia.

Nước tại bề mặt lạnh nhất gần các cực, nơi mặt trời quanh năm nằm thấp trên bầu trời. Có thể thấy nước biển lạnh nhất - thấp hơn nhiệt độ đóng băng vài độ - tại biển Trắng của Nga. (Độ mặn làm giảm điểm đóng băng của nước biển xuống dưới nhiệt độ đóng băng của nước ngọt).

Các dòng chảy - hoạt động như những con sông riêng biệt trong phạm vi của đại dương lớn hơn - thường chứa các khối nước ấm hoặc mát bất thường. Ví dụ như Dòng chảy Nhật Bản tại Biển Thái Bình Dương quét qua một “con sông” nước ấm từ các vùng nhiệt đới phía bắc dọc theo bờ biển phía tây của Canada và Alaska. Kết quả là, các khối nước của Biển Thái Bình Dương ở phía Bắc Mỹ ấm hơn nhiều so với bên Nga.

Đôi khi hai dòng chảy với những nhiệt độ cực kỳ khác nhau xuất hiện bên cạnh nhau. Ngoài khơi biển Newfoundland, nơi vịnh Stream ấm chảy qua dòng Labrador lạnh, chỉ cách nhau một vài foot thì nhiệt độ của nước có thể chênh lệch nhau 110C.

Một đặc tính quan trọng khác của nước biển là tỷ trọng của nó, hay trọng lượng riêng. Do độ mặn của nó, nước biển nặng hơn nước ngọt. Tỷ trọng của nước biển không chỉ phụ thuộc vào độ mặn mà còn phụ thuộc vào nhiệt độ của nó: nước ấm hơn có xu hướng nặng hơn nước lạnh.

Sự khác biệt lớn nhất về tỷ trọng của nước biển xuất hiện gần bề mặt đại dương, nơi mà nước dễ bị ảnh hưởng bởi thời tiết. Nói chung thì tỷ trọng giảm đi tại những vùng có nước ngọt đổ vào đại dương qua dòng chảy từ đất liền, sự tan băng, hay giáng thủy. Tỷ trọng của nước biển tăng lên khi lạnh đi và khi nước ngọt mất đi qua quá trình bay hơi.

Các tầng nước biển nhẹ hơn có xu hướng trôi lơ lửng bên trên các tầng nước lạnh hơn. Nếu nước tại bề mặt nặng hơn tầng nước bên dưới nó, thì tầng nước bề mặt sẽ chìm xuống đến khi nó chạm đến một tầng nước có tỷ trọng gần bằng nó.

Sự trồi lên và hạ xuống liên quan đến tỷ trọng của nước giúp làm mạnh các dòng chảy trên thế giới. Ví dụ, nước lạnh gần các cực chìm rất sâu xuống dưới và từ đó trải rộng ra theo chiều ngang khắp thế giới. Những chu trình tương tự nhưng với phạm vi nhỏ hơn tại mỗi đại dương của thế giới giúp duy trì nhiều dòng chảy có căn cứ mà các thủy thủ phát hiện lần đầu tiên và vẽ lên bản đồ cách đây hàng thế kỷ và vẫn tin vào ngày nay.

Đại dương trên thế giới

Khi nhìn từ không gian, hành tinh của chúng ra là một khối cầu màu xanh sáng - một thế giới nước. Thực vậy, có thể nói rằng hành tinh này được đặt tên hoàn toàn không đúng, vì “đất” rắn chỉ bao phủ một phần nhỏ bề mặt của nó.

Đại dương bao phủ 71% địa cầu, gần 362 triệu km2. Hơn nữa, những ngọn núi cao nhất trên đất sẽ dễ dàng biến mất nếu bị rơi vào rãnh đại dương sâu nhất. Không phải lúc nào cũng vậy.

Nguồn gốc của đại dương

Cách đây khoảng 4 tỉ năm, bề mặt Trái đất nóng đến nỗi nước bị bay hơi khi tiếp xúc. Mặc dù bề mặt của hành tinh trẻ này khô ráo, nhưng bầu khí quyển của nó tràn đầy hơi nước núi lửa và bụi. Lớp vỏ mây dày đặc này bảo vệ Trái đất khỏi ánh nắng Mặt trời, và giúp làm lạnh nó. Khi nhiệt độ hạ xuống, hơi nước và bụi trong bầu khí quyển bắt đầu tích tụ lại thành mưa. Trận mưa như trút nước sau đó kéo dài trong hàng ngàn năm.

Khi các đám mây này rốt cục cũng phân tán ra, Trái đất bị biến đổi thành một thể cầu có màu xanh óng ánh. Một đại dương khổng lồ bao phủ toàn bộ hành tinh. Bên trên bề mặt đại dương là đỉnh của những ngọn núi cao nhất - những hòn đảo đầu tiên của thế giới.

Đại dương ban sơ của Trái đất hầu như không có muối. Chỉ sau đó, sau khi các lục địa hình thành, thì mưa và sóng mới cuốn muối và khoáng từ đất liền ra biển. Sự rửa muối dần của các lục địa làm tăng lượng muối biển cho đến khi nó đạt đến mức như ngày nay.

Sau hàng trăm triệu năm, các lục địa trồi lên định hình như hình dạng ngày nay - chia biển nguyên thủy của Trái đất ra thành ba đại dương chính: Đại Tây Dương, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Tuy nhiên, biển Đại Tây Dương - được các nhà hải dương học xem là một vùng biển nằm bên mép của Đại Tây Dương - thường nâng lên đến vị thế đại dương.

Mặc dù các đại dương có đặc tính khác biệt nhau, nhưng tất cả đều liên kết với nhau. Mỗi đại dương chứa nhiều phần nhỏ hơn, gọi là biển, biển đôi khi tách rời khỏi đại dương bao la bởi một khe hở hẹp gọi là eo biển. Biển Địa Trung Hải và biển Caribbea là hai trong số những biển nổi tiếng nhất trên thế giới (có tổng cộng 70 biển). Các vịnh và eo hẹp là những phần nhỏ của đại dương, tiếp giáp với đất liền.

NGUYỄN ĐĂNG KHOA biên dịch


» Xem mục lục
» Xem các sách cùng thể loại
Món ngon gia đình
Món ngon gia đình

Các món ăn ngon, thông tin làm đẹp, chăm sóc bé.
Online Caro Game
Online Caro Game

Đọ sức với các cao thủ caro hàng đầu Việt Nam.