Sách Tôn Giáo Đạo Thiên Chúa Giáo lý Công giáo

Bài 19: Khấn giữ các lời khuyên Phúc âm

Bằng việc khấn giữ các lời khuyên phúc âm, tu sĩ phó mình hoàn toàn cho Chúa. Việc tuyên khấn không thêm thắt gì hơn vào cái mà mọi Kitô hữu phải sống. “Tuyên khấn là một cách thức để nói lên ước muốn sống chính xác sự viên mãn đã ban cho Giáo Hội, cái làm nên đời sống sâu thẳm của mỗi Kitô hữu. Đời sống tu trì làm chứng cho xã hội thấy cách rõ ràng hơn những thực tại của đức ái, của sự hiệp thông vào thân thể Chúa Kitô, Đấng đã thíêt lập nên đời sống Giáo Hội. Nội dung của lời khấn không thêm điều gì mới. Lời khấn chỉ biểu lộ tính năng động sâu sắc của việc ta thuộc trọn về Giáo Hội. Truyền thống đã lý giải thực tại này trong cách nói: “Khấn dòng là phép Rửa lần hai.” Khấn dòng bắt nguồn từ phép Rửa và làm lan tỏa ra tính năng động của Phép Rửa, của việc chúng ta tháp nhập vào thân mình của Chúa Giêsu. Thế thôi!” – (La vie religieuse apostolique – Bruxelles 1978 – p. 146; LG số 42)

Sự hiến dâng toàn diện diễn tả qua ba lời khấn: khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục, thể hiện trên bình diện các cấu trúc căn bản của sự hiện hữu con người. “Ba lời khấn chứng minh rằng con người có thể vượt qua ước muốn chiếm hữu (lời khấn khó nghèo); có giá trị đối với ai đó (lời khấn khiết tịnh); có quyền lực trên thế gian cũng như trên vận mệnh của mình (lời khấn tuân phục)” – Sách đã dẫn tr. 152

Việc hiến thân triệt để cho Thiên Chúa qua ba lời khấn nhắm vào việc tái tạo con người trong sự tự do của tin mừng. Hành động này giải phóng con tim (LG 42; P.C số 12-13) và làm cho con người có khả năng hơn cho công tác bác ái vì Thiên Chúa và anh em.

Đức khiết tịnh

Đức khiết tịnh “vì Nước Trời” (Mt 19, 12) phải được xem như một ân huệ cao cả của ơn thánh. Ơn ấy giải thoát lòng con người để nồng nàn mến Chúa và yêu mọi người hơn…” – P.C 12

Công đồng cho ta biết, chỉ có thể sống khiết tịnh trong bầu khí ân sủng. Ơn sống khiết tịnh do Chúa Cha ban và là công trình liên lỉ của Chúa Thánh Thần.

Đức khiết tịnh là tình yêu noi gương Đức Kitô, Đấng chỉ bíêt yêu Chúa Cha và nhân loại.

Đức khiết tịnh là tình yêu kết hợp với Đức Kitô phục sinh, kết hợp trọn vẹn, báo hiệu sự kết hợp trọn hảo với Đấng Vĩnh Hằng.

Đức khiết tịnh là tình yêu phục vụ của Đức Kitô mà ta bắt gặp nơi người anh em đang đau khổ, đang khóc than, đang giẫy chết…

Sống đức khiết tịnh như thế, người tu sĩ được đưa dẫn tới một cung cách mới để yêu thương, và có khả năng mở hết lòng mình ra cho anh em.

Đức khó nghèo

“Bằng cách tự nguyện sống khó nghèo, chúng ta san sẻ sự khó nghèo của Đức Kitô, Đấng tuy giàu có, đã trở nên thiếu thốn vì chúng ta để chúng ta được giàu sang nhờ sự cùng cực của Người.” – (2Cr 8,9; Mt 8, 20; P.C 13)

Đời sống tu trì tham dự vào sự nghèo khó đánh dấu các giai đoạn trong cuộc đời Chúa Giêsu: Bêlem, Nazarét, đời sống công khai, thập giá… Tu sĩ từ bỏ của cải vật chất để tìm thấy nơi Đức Giêsu phục sinh một sự giàu sang đích thực.

Sự nghèo khó làm cho ta nên con thảo đối với Chúa Cha. Nó là dấu chỉ sự lệ thuộc tận căn, đìều ghi khắc nơi hữu thể và nơi hành động: tu sĩ nhận mọi sự từ Thiên Chúa, phó thác mọi sự cho Chúa Quan Phòng, Đấng nuôi dưỡng chim trời. Nghèo của cải vật chất giúp cho tu sĩ nhận ra nhu cầu cơ bản là Thiên Chúa. Sống khó nghèo là phương thế để thực hiện một cộng đoàn yêu thương và làm việc tông đồ, một cộng đoàn trong đó mỗi người đều có ích cho nhau và cần đến nhau. Cộng đoàn này nối kết với người nghèo, giúp đỡ họ, ưa thích phục vụ họ.

Đức vâng phục 

“Nhờ khấn giữ đức vâng lời, các tu sĩ tận hiến ý muốn mình như của lễ bản thân dâng lên Thiên Chúa, nhờ đó họ được kết hợp với ý muốn cứu rỗi của Người cách kiên trì và chắc chắn hơn.” (P.C 14)

Nói đến vâng lời là chúng ta chạm đến điểm sâu kín nhất của mầu nhiệm Đức Kitô. Đức Giêsu vâng phục Chúa Cha vì Ngài sống hiệp thông tình yêu với Cha. Tin mừng cũng cho ta thấy Chúa Giêsu tuân phục tất cả những ai đại diện cho Thiên Chúa và truyền đạt ý muốn của Thiên Chúa (Lc 2, 51) 

Đối với tu sĩ, vâng lời là tham dự vào sự tuân phục của Đức Kitô. “Các tu sĩ lấy đức tin tùng phục các vị Bề Trên, đại diện Thiên Chúa, và nhờ các ngài hướng dẫn, họ phục vụ mọi anh em trong Đức Kitô.” (P.C 14) Vâng lời trong lắng nghe và cùng nhau tìm kiếm thánh ý Chúa. Không ai tìm lợi ích cho riêng mình nhưng tìm lợi ích cho anh em.

Đời sống chung

Sống chung là một trong những đặc tính riêng của đời tận hiến. Được mời gọi tiến đến đức ái trọn hảo, các tu sĩ theo đuổi sự trọn lành trong tình yêu anh em trong cộng đoàn. Theo gương các cộng đoàn tín hữu tiên khởi, “các tu sĩ mang lấy gánh nặng của nhau, trọng kính lẫn nhau trong tinh thần giao hảo huynh đệ.” (P.C 15; Rm 12, 10; Gl 6, 2) 

CÂU HỎI BÀI SỐ 19

Trong Cựu ước, Thiên Chúa kêu gọi nhiều người và giao cho họ một sứ mạng.

1. Chỉ viết vài chữ, Bạn cho biết những người có tên sau đây được Chúa giao cho sứ mạng gì:

- Abraham (St 12, 1-3)

- I-xa-ác (St 26, 3)

- Mô sê (Xh 3, 9-12)

2. Chúng ta không tự giao sứ mạng cho mình mà nhận sứ mạng nơi Thiên Chúa. Mỗi người đều được Chúa giao cho một sứ mạng. Bạn có biết sứ mạng Chúa giao cho Bạn là gì không? Bạn cần phải làm gì để có đủ sức thực hiện sứ mạng được giao?


Bài đọc thêm

LÀM THÁNH TRONG BẬC SỐNG CỦA MÌNH

Lm Nguyễn Hồng Giáo, OFM

Lễ Các Thánh hằng năm nhắc nhở chúng ta rằng lý tưởng làm thánh không dành riêng cho thành phần nào trong dân Chúa, nhưng hết thảy mọi người Kitô hữu đều được kêu gọi nên thánh như nhau.

Một mẫu gương: thánh Lu-y, vua nước Pháp

Chỉ mấy tháng sau khi thánh Phanxicô Assisi qua đời, năm 1226, một thiếu niên 12 tuổi lên ngôi vua nước Pháp, lấy hiệu là Lu-y IX. Ông vua trẻ tuổi này sẽ trở nên một môn đệ xứng đáng của vị thánh mà thiên hạ quen gọi là Thánh Nghèo trong Dòng Ba Phan-sinh, một vị anh quân của nước Pháp và một người con hiển hách của Giáo Hội. 

Người ta thường đề cao lòng đạo đức sốt sắng và tinh thần đền tội của thánh Lu-y, nhưng theo tôi, điều đáng nhấn mạnh hơn cả là: thánh nhân là một giáo dân kiểu mẫu, đã thực hiện sự thánh thiện Kitô giáo và xây dựng Nước Chúa với chính những thực tại trần thế của cuộc đời mình, qua các bổn phận của bậc sống mình.

Thực tại trần thế đó, trước hết là đời sống gia đình, với các nghĩa vụ và các vấn đề muôn thuở của một người chồng và một người cha. Sử sách ghi lại rằng Lu-y có một tình yêu thật thắm thiết đối với vợ là hoàng hậu Mac-ga-ri-ta. Hai người sinh được 11 đứa con. Tuy gánh việc nước nặng nề, ngài vẫn chu tất việc nhà, để tâm gíao dục con cái nên người tốt và nên người công giáo đạo đức.

Thực tại trần thế đó, còn là nhiệm vụ trị dân trị nước, lo lắng cho hạnh phúc của mọi dân, cách riêng những người bé mọn, nghèo khổ. Trong Di Chúc để lại cho hoàng tử sẽ nối ngôi mình, thánh Lu-y căn dặn: “Con hãy có lòng thương xót đối với người nghèo, và tùy khả năng con mà giúp đỡ, an ủi họ. Đối với các bề tôi của con, con hãy ăn ở cho ngay thẳng, sao cho giữ được sự công bằng, không nghiêng bên phải, ngả bên trái, - và bao lâu chưa biết chắc chân lý nằm ở phía nào, con hãy luôn luôn nghiêng về phía người nghèo hơn là người giàu. Con hãy chăm lo sao cho các bề tôi của con được giữ gìn trong công lý và hòa bình.”

Những lời căn dặn con như trên, chính thánh Lu-y đã tự mình thực hiện. Ngài được tiếng là người xét xử khôn ngoan và công minh. Và ta hãy nói ngay rằng ngài đang nên thánh khi làm trọn nhiệm vụ của một ông vua, ngài đang sống tinh thần phúc âm ngay khi làm những công việc phần đời.

Sau hết, thánh Lu-y đã suốt đời yêu mến Giáo Hội và nhiệt thành phục vụ lợi ích của Giáo Hội. Chính ngài đã chiêu mộ quân binh và đích thân đi giải phóng Thánh Địa hồi ấy đang bị quân Hồi Giáo chiếm giữ và cấm người Kitô hữu tới hành hương. Đó là một cách biểu lộ đức tin và lòng yêu mến Giáo Hội rất oanh liệt theo hoàn cảnh và quan niệm thời bấy giờ. Chính là trong một cuộc viễn chinh như thế mà ngài đã lâm bệnh và từ trần tại Tunis năm 1270, lúc 55 tuổi.

Để có thể sống một cuộc đời gương mẫu như thế trong mọi nhiệm vụ của đấng bậc mình, chắc chắn thánh nhân đã làm những gì ngài sẽ dạy dỗ con sau này: “Con rất yêu dấu, trước tiên cha dạy con hãy kính mến Chúa là Thiên Chúa hết lòng, hết sức vì nếu không thì sẽ không được ơn cứu độ. Con hãy giữ mình cho khỏi tất cả những gì mà con biết là không làm đẹp lòng Chúa, tức là tội trọng.”

Trong ngày lễ kính mừng thánh Lu-y, Giáo Hội ca tụng ngài như người tôi tớ tốt lành và trung tín, đã biết dùng các nén bạc được giao mà làm lợi cho ông chủ của mình.

Vài suy nghĩ

Sống cách chúng ta gần tám thế kỷ, nhưng thánh Lu-y vẫn là một vị thánh hợp thời.

Nhiều người quen nghĩ rằng làm thánh là việc dành riêng cho các nhà tu hành, còn giáo dân thì làm sao có thể mơ tới lý tưởng cao cả ấy được? Quả thực có một thời người ta đã lấy các vị đan sĩ, tu sĩ làm mẫu mực cho lý tưởng Kitô giáo, và ai ai trong Hội Thánh, từ các giáo sĩ đến giáo dân cũng phải gắng sức xích lại gần mẫu mực ấy được chừng nào hay chừng ấy.

Công đồng Vatican II đã nhắc lại rằng tất cả mọi thành phần Giáo Hội đều được mời gọi nên thánh, nhưng mỗi người tùy theo đấng bậc, tùy theo khả năng và hoàn cảnh riêng mà mang một vẻ thánh thiện riêng, khiến cho Giáo Hội được trau dồi bằng những vẻ đẹp muôn màu muôn sắc. Mẫu mực thánh thiện chỉ có một nhưng cách “họa lại” mẫu mực ấy thì thiên hình vạn trạng.

Thánh Phanxicô đệ Sa-lê đã nói một câu rất đẹp theo ý ấy: “Bất kỳ Chúa trồng bạn ở đâu, bạn hãy trổ những bông hoa đẹp nhất cho Người ở đó.”

Mỗi nơi có những điều kiện riêng, nơi ấm nơi khô, nơi phì nhiêu nơi sỏi đá, nơi thấp nơi cao v.v…, mỗi đấng bậc, mỗi hoàn cảnh, mỗi tính tình cũng tương tự như thế. Chúa chỉ đòi hỏi ta ở chỗ nào thì tùy theo điều kiện cụ thể chỗ ấy mà trổ bông đẹp tức là nên thánh.

Trích Người Tín Hữu


» Xem mục lục
» Xem các sách cùng thể loại
Món ngon gia đình
Món ngon gia đình

Các món ăn ngon, thông tin làm đẹp, chăm sóc bé.
Online Caro Game
Online Caro Game

Đọ sức với các cao thủ caro hàng đầu Việt Nam.